Ba cõi không an như nhà lửa. Đâu miền chân lạc khỏi tang thương. Người vô thường, cảnh vô thường. Khuyên gọi cùng nhau tỉnh mộng. Quay về biển giác thanh lương.
Dạng xem (Full | List)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu Sử Tăng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu Sử Tăng. Hiển thị tất cả bài đăng
CÁC TIỂU SỬ NGẮN GỌN
DÒNG HÓA THÂN
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên


Đức Dhakpa Tulku Rinpoche
Nguyên tác: “Venerable Dhakpa Tulku Rinpoche”
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Đức Dhakpa Tulku Rinpoche được xác nhận là hóa thân của Gaden Tripa (1) Lobsang Dhargye Rinpoche thứ 49 – vị lãnh đạo truyền thống Geluk của Phật giáo Tây Tạng.

Thân mẫu ngài là Shelo Dolma đã hạ sinh ngài năm 1926 tại Kongpo, miền nam Tây Tạng. Khi ngài được năm tuổi, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã xác nhận ngài là hóa thân của Gaden Tripa Lobsang Dhargye Rinpoche thứ 49. Sau khi được xác nhận không lâu, ngài được đưa tới Lhasa để làm lễ đăng quang, có cha mẹ và những vị trợ tá trong đời trước của ngài đi cùng.

Sau đó ngài trở về Tu viện riêng Dhakpa Namdol Ling ở Meldro Gungkar, phía bắc Lhasa, ở đó ngài nhận những giới nguyện Sa Di và bắt đầu học thuộc lòng những bài cầu nguyện đầu tiên của ngài. Khi Dhakpa Rinpoche được mười tuổi, ngài tới Học viện Sera Mey và trải qua mười sáu năm ở đó để nghiên cứu triết học Phật giáo. Năm 26 tuổi, ngài thành công trong kỳ khảo sát Geshe và nhận thứ hạng cao nhất là Lharampa Geshe. Năm 1952, Rinpoche vào Học viện Mật thừa Gyuto và trải qua bảy năm nghiên cứu toàn bộ các nghi lễ Mật thừa, nhận thứ hạng Ngagrampa trong các Nghiên cứu Mật thừa. Ngài tới Ấn Độ năm 1959.

Năm 1962, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 chỉ định Đức Dhakpa Rinpoche là Tu viện trưởng Tu viện Sera Mey, Tu viện trưởng đầu tiên của Tu viện Sera Mey ở hải ngoại. Rinpoche đảm nhiệm chức vụ Tu viện trưởng trong ba năm nhưng bởi sức khỏe không tốt nên ngài đã rời Tu viện và tới miền đông bắc Ấn Độ để điều trị tại Kalimpong. Trong thời gian ở Kalimpong, nhiều người Tây Tạng ở địa phương đã tạo được mối nối kết chặt chẽ với Rinpoche nhờ những giáo lý và gia hộ tâm linh của ngài. Cho tới năm 1990 Rinpoche đã sống một cuộc đời hết sức trầm lặng ở Kalimpong và dùng hầu hết thời gian để nhập thất và thiền định. Mặc dù Rinpoche là một trong những vị Thầy tâm linh cao quý và quan trọng nhất sống ở Ấn Độ, nhưng bởi bản tánh khiêm tốn và những thực hành cá nhân của ngài nên ngài ít được bên ngoài biết tới. Tuy nhiên, trong thực tế ngài là một trong những vị Thầy vô cùng hiếm hoi hộ trì các giáo lý từ những dòng truyền thừa bí mật, quan trọng và quý báu bậc nhất mà ngài đã nhận lãnh từ Pabongka Rinpoche và nhiều Lạt ma hóa thân chứng ngộ cao cấp khác ở Tây Tạng. Trong suốt đời ngài, Rinpoche đã tích cực tìm kiếm giáo lý từ các Đạo sư tâm linh của những truyền thống Phật giáo Tây Tạng khác, khiến cho sự hiểu biết và giáo lý của ngài càng thêm phong phú. Hiện tại, ngài đang trao truyền tất cả những giáo lý bí mật này cho các Lạt ma và Geshe trẻ tuổi trước khi ngài quá già. Vì thế, Rinpoche được khẩn cầu trao truyền tất cả những giáo lý và những nhập môn Mật thừa khác cho các Rinpoche trẻ ở Tu viện Sera Mey, là nơi ngài an cư ba tháng mỗi mùa đông. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tán thán Dhakpa Rinpoche về sự dâng hiến các thực hành và bố thí Pháp của ngài.

Nguyên tác: “Venerable Dhakpa Tulku Rinpoche”
http://www.fpmt.org/teachers/lineage_lamas/dhakpa_rinpoche.asp

Chú thích:
(1) Gaden Tripa: vị Hộ trì Pháp tòa Gaden, người lãnh đạo truyền thống Geluk của Phật giáo Tây Tạng.

Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên


Đức Kyabje Yongdzin Ling Dorjechang 1903-1983
Nguyên tác: “His Holiness Kyabje Yongdzin Ling Dorjechang 1903-1983
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Thầy Trưởng Giáo của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười bốn, và Vị Hộ trì Pháp tòa thứ 97 của Đức Je Tzongkhapa, ngài Jetzun Thubten Lungtog Namgyal Trinley Palzangpo, Đức Kim Cương Trì Yongdzin Ling vĩ đại ra đời lúc bình minh ngày mồng sáu tháng mười một năm Thủy-Mẹo (1903) theo lịch Tây Tạng. Thân mẫu của ngài là Sonam Dekyi đã hạ sinh ngài tại Yabphu, một thánh địa của Chakrasamvara và vị phối ngẫu, ở tây bắc Lhasa, Tây Tạng. Ngài là người thứ sáu trong một loạt các hóa thân của ngài. Sharchoe Yongdzin Ling Tulku, Losang Lungtog Tenzin Trinley, vị tiền nhiệm của ngài, là Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba. Trong khóa nhập thất thiền định toàn phần kéo dài ba năm của ngài về Vajrabhairava (1), giữa những thời khóa thiền định hàng ngày, ngài đã biên soạn một trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của ngài. Tác phẩm này tên là Bậc thang thứ 18 của Vajrabhairava Ekavira, Tibet House, New Delhi xuất bản năm 1981. Đây là cẩm nang đầy đủ và đáng tin cậy nhất có thể sử dụng để thực hành và nghiên cứu về Vajrabhairava, bởi dòng truyền thừa này rất được yêu quý như sự hiển lộ trong thân tướng con người của chính Bổn Tôn Vajrabhairava. Kế đó, tới lượt Đức Ling Rinpoche thứ Năm là hóa thân của Ngawang Lungtog Yonten Gyatso, Thầy giáo của Đức Khedrub Gyatso, Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Một, và là Vị Hộ trì Pháp tòa thứ Bảy mươi lăm. Có nhiều hiển lộ khác của dòng truyền của Ling Rinpoche kéo dài từ thời Đức Phật.

Ngài Yongdzin Rinpoche được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba và các vị Vấn Linh của Quốc gia là Nechung và Gadong tìm thấy và xác nhận là hóa thân không sai lạc của vị tiền nhiệm. Khi được bảy tuổi ngài được chính thức đăng quang theo nghi thức truyền thống.

Khi an trú tại ẩn thất tu viện Garpa Ritroe của ngài, trong thời thiên niếu, ngài đã theo khóa tu học căn bản gồm đọc, viết, học thuộc lòng và những môn học chuẩn bị khác dưới sự giám hộ của vài học giả và hành giả vĩ đại. Năm Thủy-Tí (1912) khi được mười tuổi, ngài vào Học viện Loseling thuộc Đại học Tu viện Drepung và bắt đầu một quá trình tu học nghiêm ngặt những lãnh vực nghiên cứu bao la của Phật giáo. Tháng giêng năm Thủy-Sửu (1913) ngài thọ các giới nguyện cư sĩ và tu sĩ Genyen và Getsun từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba – Vị Hộ trì Giáo lý vĩ đại, Đạo sư và Đức Phật Toàn trí (như lời của Kyabje Ling Rinpoche đã nói), tại Đại sảnh Sasum Mangyal của Cung điện Mùa Đông Potala.

Kế đó, trong khi ở Đại học Tu viện Drepung, ngài dấn mình vào việc nghiên cứu rộng rãi các môn học để đạt được học vị Geshe (Tiến sĩ Phật Học), bao gồm Năm Luận thuyết về luận lý, trí tuệ, triết học, đạo đức và siêu hình học của các Đạo sư Phật giáo Ấn Độ lừng danh, và những luận giảng của các Đạo sư Tây Tạng về những luận thuyết đó. Những lúc rảnh rỗi ngài nghiên cứu những kiến thức phụ khác, nhờ đó hoàn thiện những phẩm tính của một Đạo sư uyên bác.

Năm Mộc-Tuất, ở tuổi hai mươi, ngài thọ giới Gelong (Cụ túc giới) từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba, người vừa làm Tu viện trưởng vừa làm thầy trợ giáo, cùng với số tu sĩ theo quy định. Sau khi được phép tham dự kỳ thi Geshe cuối cùng ở độ tuổi rất trẻ, theo lời khuyên của vị Tu viện trưởng đương nhiệm của Học viện Loseling, ngài đã tới dự thi trước những cộng đồng tu sĩ khác nhau và nhận học vị Geshe Lharampa tại cung điện Mùa Hè Norbu Lingkha trong Đại Lễ Cầu nguyện Hàng Năm ở Lhasa vào tháng 5 năm Mộc-Tý (1924). Ngài được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười ba ban học vị Geshe Lharampa ở vị trí thứ hai với sự tôn vinh.

Từ năm mười hai tuổi, ngài nhận nhiều thuyết giảng về mọi phương diện của giáo lý Kinh điển và Tantra (Mật điển) và những nhập môn Mật thừa từ ba mươi Lạt ma vĩ đại, trong đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma, Bổn sư Kyabje Phabongkhapa Dechen Nyingpo, Kyabje Buldu Dorjechang, Nhiếp Chính Kyabgon Sikyong Tadrag Dorjechang, Kyabje Khangsar Dorjechang, Chone Lama Rinpoche, Kyabje Yongdzin Trijang Dorjechang và nhiều vị Thầy khác. Năm hai mươi tám tuổi, trong khi làm một cuộc hành hương thật xa ở Tây Tạng, ngài ban nhiều buổi thuyết giảng ở những nơi khác nhau. Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba thị tịch vào năm Thủy-Dậu (1933), ngài đã tham gia vào việc chuẩn bị để bảo quản nhục thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma và lễ hiến cúng điện thờ thánh tích của Ngài trong điện Potala trong thời gian hai năm.

Năm Hỏa Tý (1936), ở tuổi ba mươi tư, sau khi đã nổi tiếng trong chức vụ gekyö (Thầy chấp giới) một nhiệm kỳ, ngài được bổ nhiệm làm Lạt ma trưởng của Gyutoe. Nhiếp Chính Gyaltsab Radreng Hothogtu chỉ định ngài làm Tu viện trưởng. Chính vào năm thứ hai trong nhiệm kỳ Tu viện trưởng ngài đã nhìn thấy tôn nhan của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Bốn, người từ Domey Tzonkha tới Lhasa - Domey Tzonkha cũng là nơi sinh của Jamgon Tzongkhapa.

Năm Kim-Thìn (1940), Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện tại được tôn phong trên ‘Sư Tử Tòa.’ Sau khi làm Thầy Trợ Giáo cho Đức Đạt Lai Lạt Ma vào lúc đầu, trong khi làm Tu viện trưởng Gyutoe, giờ đây ngài được bổ nhiệm làm Thầy Phó Giáo. Sau đó, năm 1949, ngài được bổ nhiệm làm Sharpa Choeje, vị trí thứ hai trong Truyền thống Gelug bên cạnh Vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden và cuối cùng trở thành Thầy Trưởng Giáo của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Năm Mộc-Ngọ (1954) ngài làm Tu viện trưởng và thầy giáo khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thọ Cụ túc giới (Gelong) trước linh tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong Chánh Điện Tzuglakhang ở Lhasa, trong Đại Lễ Cầu nguyện Hàng Năm. Cùng với Thầy Phụ Giáo Kyabje Yongdzin Trijang Rinpoche, ngài tiếp tục hiến dâng Đức Đạt Lai Lạt Ma dòng trao truyền không đứt đoạn và không bị suy hoại các Thánh Pháp thuộc Kinh điển và Mật điển và những lãnh vực kiến thức khác. Các ngài trao đổi cho nhau những dòng truyền thừa các giáo lý. Sự hài hòa lý tưởng và hoàn hảo này khiến cho những trách nhiệm cao quý của các ngài trở nên vô cùng giá trị và hữu ích.

Kế đó, vào năm 1954, Kyabje Ling Rinpoche tháp tùng Đức Đạt Lai Lạt Ma tới Trung quốc trong một chuyến viếng thăm có tính cách quốc gia. Sau đó vào năm 1956 ngài tháp tùng Đức Đạt Lai Lạt Ma tới Ấn Độ để tham dự lễ kỷ niệm 2500 năm ngày Đức Phật nhập Niết Bàn. Trên đường trở về từ những chuyến du hành này, cũng như trong nhiều cơ hội trước đây, ngài đã ban những giáo lý quan trọng về Kinh điển và Mật điển và những nhập môn công khai lẫn bí mật cho hàng ngàn đệ tử, theo cách đó chỉ vì lợi lạc của chúng sinh, ngài đã chia sẻ dòng truyền thừa những giáo lý này mà ngài thọ nhận từ những Đạo sư của ngài.

Sau đó vào năm Thổ-Hợi (1959), để bảo hộ Phật Pháp và nền độc lập của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tới Ấn Độ. Cả hai vị Giáo Thọ, Đức Kyabje Yongdzin Ling Rinpoche và Kyabje Yongdzin Trijang Rinpoche cũng tới Ấn Độ trong đoàn tùy tùng và cùng với Đức Đạt Lai Lạt Ma, lúc đầu cư trú tại Mussoorie và sau đó ở Dharamsala, là nơi đã trở thành trụ sở của Chính phủ Tây Tạng ở Hải ngoại năm 1960.

Sau khi vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ Chín mươi sáu mất ở Tây Tạng, Kyabje Ling Dorjechang được tôn phong là Sharpa Choeje và được bổ nhiệm làm vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ Chín mươi bảy. Năm ngài sáu mươi ba tuổi, vào ngày 6 tháng Ba năm 1965 (năm Mộc-Tỵ), ngài ngự trên Pháp Tòa tại Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), địa điểm tốt lành và thiêng liêng nhất, và cũng trở thành Tu viện trưởng của Tu viện Tây Tạng Gaden Phelgye Ling ở Bodhgaya.

Năm Thổ-Thân (1968), cả hai vị Giáo Thọ được Tiến sỹ Kuhn mời tới Thụy Sĩ để hiến cúng Tu viện Choekhorgon tại Rikon, Zurich. Trong khi ở Âu châu, hai vị Giáo Thọ ban nhiều giáo lý và lễ nhập môn cho cư dân Tây Tạng và những người khác, đi tới những quốc gia khác nhau để đáp lại những lời thỉnh mời, vì thế phải hoãn lại việc trở về Ấn Độ đến tận năm sau.

Trở về Ấn Độ năm 1969, Kyabje Ling Dorjechang đã ban một thuyết giảng rộng lớn về luận văn Con Đường Tuần tự dẫn tới Giác ngộ của Je Tzongkhapa trong một tháng rưỡi. Thuyết giảng này được ban tại Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), trong đại sảnh của Tu viện Tây Tạng cho khoảng bảy trăm đệ tử.

Với tư cách là Vị Hộ trì Pháp tòa Gaden, ngài cũng chịu trách nhiệm tổ chức các Đại Lễ Cầu Nguyện Hàng Năm ở Bodhgaya và những tu viện khác. Năm Thủy-Tí (1972) để đáp lại những khẩn cầu liên tục, ngài viếng thăm Châu Âu một lần nữa và cũng trải qua một tháng ở Bắc Mỹ trong mùa hè và thu năm 1980.

Ở Dharamsala, tại Viện Chopra - trụ xứ riêng của ngài do Chính phủ Ấn Độ ân cần trao tặng, Kyabje Ling Dorjechang đã hiến mình cho công cuộc khôi phục lại giáo lý đang bị suy tàn của Đức Phật và những quan điểm toàn hảo của Đức Phật thứ Hai Jamgon Tzongkhapa về Kinh điển và Mật điển, cùng những truyền thống thực hành của các giáo lý đó. Theo khẩn cầu của nhiều người Tây Tạng và số đệ tử người Tây phương và Ấn Độ mỗi lúc một tăng, ngài đã ban nhiều khóa giảng về những chủ đề chính yếu của Kinh thừa và các nhập môn, những khẩu truyền và giảng dạy về các hệ thống Du già của bốn cấp Tantra (Mật điển). Ngài cũng thường ban những lễ thọ giới Sa Di và Tỳ khưu.

Những bài giảng công khai cuối cùng của ngài bao gồm một thuyết giảng quảng bác về Lam-rim Chen mo, Con Đường Tuần tự dẫn tới Giác ngộ, được ban tại Bylakuppe cho một hội chúng gần hai ngàn người theo thỉnh cầu của Tu viện Sera và một khóa giảng kéo dài năm ngày về Bốn Chánh niệm (Tứ niệm xứ) tại Tibet House (Viện Tây Tạng), New Delhi, cho một hội chúng hơn một trăm đệ tử người Ấn Độ, Tây phương và Tây Tạng và kết thúc bằng một sự chuẩn y của Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) và một nhập môn trường thọ. Bằng cách này ngài đã an trụ thật tốt lành trong chúng ta để dẫn dắt tất cả chúng sinh không loại trừ ai tới trạng thái chứng ngộ của riêng mình.

Sau đó, trước sự sửng sốt và tuyệt vọng của mọi người, ngài bị đột quỵ trầm trọng vào tháng Chín 1983. Từ khắp nơi ở Ấn Độ và ngoại quốc, các Tu viện trưởng và những vị lãnh đạo của các tu viện chính của phái Gelug và nhiều cá nhân lập tức tới Dharamsala để dâng những lời cầu nguyện hồi hướng cho sự trường thọ của ngài. Mặc dù đã dùng mọi các trị liệu có thể có được, cuối cùng vào trước buổi trưa ngày 25 Tháng Mười Hai, ngài đã thị tịch vào cõi an bình ở tuổi tám mươi mốt vì lợi lạc của chúng sinh bám chấp vào quan điểm về sự thường hằng. Và như vậy là vào lúc tất cả những thị giả riêng của ngài đang ở trong phòng với ngài, ngài đã mỉm cười khi thở hơi cuối cùng. Sau đó ngài an trụ trong trạng thái thiền định tịnh quang cho tới ngày 7 tháng Giêng, nhục thân của ngài vẫn ở trong trình trạng toàn hảo. Người ta nghe thấy thiên nhạc và những giọng hát du dương của người nam và người nữ vang lên từ gian phòng nơi nhục thân của ngài yên nghỉ một mình trong trạng thái thiền định tịnh quang.

Ngay cả những yếu tố (các đại) và thiên nhiên cũng tỏ lòng tôn kính về sự kiện đau buồn này đối với việc ra đi và sự vĩ đại thường hằng của ngài. Sáng sớm ngày ngài thể nhập trạng thái an bình, vào ngày Giáng sinh, thời tiết trở nên xáo trộn và gió mạnh thổi qua Dharamsala với rất nhiều sự kích động. Hiện tượng tương tự tái diễn sau khi trời tối, với sấm và sét, và để lại một lớp tuyết. Ít ngày sau, trong khi Đức Kyabje Ling Dorjechang quá cố vẫn an trụ trong trạng thái tịnh quang, một cuộc động đất nhẹ đã xảy ra trong vùng Dharamsala, được báo chí tường thuật vào ngày hôm sau. Những đám mây có hình thể kỳ lạ được nhìn thấy suốt thời gian này. Vào buổi sáng ngày ngài thể nhập tâm giác ngộ, rất nhiều bông tuyết đã rơi xuống như một trận mưa hoa và một vầng cầu vồng bao quanh mặt trăng mọc sớm vào ban ngày. Những người nhìn thấy cầu vồng đã coi điều này như một điềm triệu thiêng liêng cho thấy tâm thức của ngài ra đi trong ngày hôm đó. Cũng buổi sáng hôm đó sắc diện ngài thay đổi và những dấu hiệu rõ ràng cho thấy tâm thức của ngài đã lìa thân xác.

Nhiều cá nhân và những nhóm người đến để bày tỏ lòng tôn kính của họ và trong sự biết ơn sâu xa về những công hạnh tràn đầy bi mẫn không thể diễn bày của ngài, các lễ cúng dường đã được thực hiện rộng rãi. Kế đó, phù hợp với lời tiên tri của Đức Đạt Lai Lạt Ma, những thủ tục được bắt đầu để lập tức bảo quản nhục thân của ngài ngay sau khi ngài thể nhập giác ngộ vào ngày 7 Tháng Giêng. Người ta quyết định sử dụng phương pháp cổ xưa của Tây Tạng. Sau nghi lễ tịnh hóa và tắm rửa nhục thân của ngài, nhiều loại khoáng chất, chất nước và dược liệu được dùng phù hợp với những điều ngài đã viết về phương pháp bảo quản được ghi lại khi ngài nhận những giảng dạy về điều này từ Bổn sư Pabongka của ngài ở Tây Tạng.

Mặc dù lâm trọng bệnh, ngài đã tận dụng hoàn cảnh này để biểu thị những phương diện khác nhau của Giáo Pháp khi ban cho các đệ tử của ngài một cơ hội độc nhất vô nhị để nhận thức một cách mãnh liệt những phẩm tính hiếm có của ngài và để tích tập công đức bao la. Ngoài ra để giảm bớt sự xúc động của các thị giả và các đệ tử trực tiếp, ngài đã trải qua những giai đoạn bình thường của căn bệnh trong bốn tháng với sự điềm tĩnh và trang nghiêm hoàn hảo, chuẩn bị cho họ điều không thể tránh khỏi với lòng bi mẫn.

Trong thời gian ngài lâm bệnh, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần tới thăm và khẩn cầu ngài tiếp tục trụ thế và ban năng lực và trí tuệ cho những người ở quanh ngài. Ngày 22 tháng Mười Hai năm 1983, trong một bài diễn văn mở đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ngỏ lời với một cử tọa đông đảo gồm những đệ tử Tây Tạng và Tây phương rằng khi xem xét tình trạng của Kyabje Rinpoche mà ngài đã viếng thăm ngay buổi sáng hôm đó, thì đây chính là lễ nhập môn Vajrabhairava cuối cùng mà Đức Kyabje Rinpoche ban trong cuộc đời Lạt ma mà từ vị Thầy này Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thọ nhận dòng truyền thừa đặc biệt này. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã an ủi cử tọa đau buồn mòn mỏi, nói rằng đây không phải là một nguyên nhân để sầu buồn, bởi mục đích của một Lạt ma là làm thế nào ta có thể nhận lãnh giáo lý từ ngài và Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng với một ít ngoại lệ, Ngài đã nhận lãnh toàn bộ và đầy đủ giáo lý của Kyabje Ling Dorjechang. Đức Đạt Lai Lạt Ma bổ túc cho lời dạy này bằng cách ban nhập môn với sự bảo đảm siêu việt, thỉnh thoảng chia sẻ với hội chúng đệ tử một nụ cười. Ngài nhấn mạnh thêm rằng cách thức tốt nhất để đền đáp thiện tâm của Lạt ma là đưa lời dạy của ngài vào thực hành để thể hiện lòng sùng mộ của ta. Như một kết thúc cho lễ nhập môn Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực hiện một lễ cúng dường tsog (2) cho Vajrabhairava (1) và yêu cầu hội chúng hồi hướng công đức cho sự thành tựu vĩnh cửu những ước nguyện của vị Thầy vĩ đại này.

Không chỉ mang lại lợi ích cho chúng sinh bằng việc giảng dạy và an trú như một đối tượng để tích tập rất nhiều công đức trong đời ngài, nhục thân của ngài vẫn tồn tại để giúp chúng ta tích tập thêm cội gốc đức hạnh.

Mặc dù hiện nay chúng ta thiếu may mắn để nhận được lợi lạc từ sự hiện diện trực tiếp của ngài, nhưng lòng bi mẫn và trí tuệ của ngài không bị ngăn trở trong bất kỳ giới hạn nào. Nếu hàng ngày chúng ta áp dụng những giáo lý và lời khuyên dạy mà ngài đã ban cho với lòng bi mẫn theo cả hai cách công khai hay riêng tư, và nếu chúng ta chú tâm thêm nữa tới lời chỉ dạy tương tự của các Lạt ma đang còn sống của chúng ta thì đây chính là cách thức đúng đắn và duy nhất để đền đáp thiên tâm vô biên của ngài và để thọ nhận những gia hộ và dẫn dắt của ngài cho tới khi ngài trở lại trong hóa thân kế tiếp. Chỉ bằng cách này mà chúng ta sẽ hoàn thành mục đích của lòng sùng mộ của chúng ta để thành kính khẩn cầu Đức Đạt Lai Lạt Ma biên soạn một lời cầu nguyện thỉnh cầu ngài mau chóng trở lại. Trong những lời lẽ của Bài Cầu nguyện chúng ta chia sẻ đầy đủ lòng biết ơn và những tình cảm sâu xa mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã biểu lộ và nhiệt thành mong mỏi và khẩn cầu một hóa thân nhanh chóng của vị Thầy được tôn kính và yêu quý nhất của chúng ta. Cầu mong những lời nguyện thiết tha của chúng ta được nhanh chóng thành tựu.

Sherpa Tulku, Dharamsala, Tháng Giêng 1984
Nguyên tác: “His Holiness Kyabje Yongdzin Ling Dorjechang 1903-1983”
http://www.fpmt.org/teachers/hhling.asp

Chú thích:
(1) Vajrabhairava: Hiện thân phẫn nộ của Đức Manjushri (Văn Thù). Ngài là Bổn tôn chính của phái Gelupa. Là một Hộ Pháp, ngài giải trừ mọi chướng ngại của hành giả trên con đường.

(2) Lễ cúng dường tsog: Thực hành tsog là một trong nhiều phương pháp thiện xảo và hữu hiệu để tích tập và tịnh hóa.
Từ Phạn ngữ của tsog là ganachakra, trong tiếng Tây Tạng là tsog kyi khorlo. Từ tsog có nghĩa là ‘một sự tích tập’ hay ‘sự thâu thập’, và khorlo có nghĩa là ‘bánh xe’ khiến cho từ này được dịch sát nghĩa là ‘bánh xe tích tập’. Lễ tsog có thể được cử hành để kỷ niệm Ngày Guru Rinpoche và Ngày Dakini (ngày 10 và 25 theo lịch Tây Tạng).

Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Các Tiểu sử ngắn gọn
Dòng hóa thân của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche
Người bảo vệ toàn khắp của ‘Đại dương các Vị Truyền Pháp và Mạn Đà La’

Quả thực, gần như không thể thâu thập một biên niên sử chi tiết về dòng hóa thân của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche. Nhưng một cố gắng khiêm tốn để có được một thoáng nhìn về dòng hóa thân vinh quang của ngài (những vị chính yếu) từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho tới bây giờ sẽ gây truyền cảm hứng cho nhiều người để thi đua với ngài và điều này phù hợp với những lời dạy minh triết đáng tin cậy.

Một vài vị được biết nhiều ở Ấn Độ

1. A La Hán Charka hay Dachompa (Người tiêu diệt kẻ thù)

Trong thời gian dài ngài đã là người trợ giúp của một Bồ Tát đối với nhiều vị tiền nhiệm của Đức Phật. Ngài là một thượng thư thân cận cao cấp trong triều đình của Vua Tịnh Phạn, thân phụ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban những bài thuyết pháp tại Nyanyoe về việc đạt được sự toàn giác và ngài là sứ giả cuối cùng được Vua Tịnh Phạn gởi tới để thuyết phục Đức Phật trở về vương quốc. Thay vào đó, bị cuốn hút bởi ân phước của Đức Phật, giống như tất cả những người khác trước đó, ngài trở thành một tu sĩ và đạt được quả vị A La hán (Dachompa, người Tiêu diệt Kẻ thù) ngay trong đời này. Đức Phật đã tiên tri thật rõ ràng rằng ngài là một Chiến sĩ kiệt xuất trong việc thấm nhuần niềm tin nơi ‘Cư sĩ’ và điều phục họ bằng Giáo Pháp.

2. Tramsey Rigche Serma (một người Bà la môn)

Ngài là một bậc lão thông mọi phương diện của Kinh Veda (Vệ-Đà) và mọi ngành của nó.

3. Drupchen Palkyong (Một đại thánh)

Đã đạt được cấp độ cao cấp Sa-lam (Nền tảng và Con Đường) – con đường tuần tự tới Giác ngộ - với các thực hành Mật thừa sâu rộng của cả hai giai đoạn phát triển và thành tựu, đạt được sự chứng ngộ đích thực về Đại Lạc.

4. Gyalpo Padma Chen (Vị Vua vĩ đại của Oddiyana)

Gyalpo Padma Chen, vị vua vĩ đại của Oddiyana, xứ sở của các giáo lý Mật điển Kim Cương sâu xa và bí mật của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật thứ 4).

5. Gyalpo Rabsang (một vị vua)

Một vị vua vĩ đại cai trị vương quốc bằng sự công chính về mặt Tâm linh lẫn Thế tục.

6. Gyalpo Shinta Chen (một vị vua)

Ngài là một Chiến sĩ điều khiển cỗ xe Tâm linh lẫn Thế tục

7. Gyalpo Langpo Kyong (một vị vua)

Cai trị vương quốc với năng lực vĩ đại, điều phục người xấu bằng cách dùng Pháp luật nghiêm ngặt thúc bách và chăm sóc người tốt lành với thiện tâm.

8. Trupthop Thoortroepa (một vị thánh-nghĩa địa)

Ngài đã sống một cuộc đời giản dị không dính mắc để luôn luôn nhắc nhở mình về lẽ ‘vô thường’.

Và một số vị thuộc các dòng hóa thân nổi danh sau này ở Tây Tạng

9. Ra Lotsawa Dorje Drak (một Hành giả và Dịch giả Vĩ đại)

Được tin tưởng là một hiển lộ của Jigche hay Vajrabhairava (Bổn Tôn) ngài đã khai phá thực hành Mật thừa chân thực và sự trao truyền Mật điển Pal Dorje Jigche ở Tây Tạng. Được coi là Hành giả có năng lực siêu nhiên khắp mười phương.

10. Akhu Trothoong Pawu (Một người Dũng cảm)

Ngài là một người dũng cảm (chiến sĩ) và một thượng thư thân cận dưới triều Vua Gesar Gyalpo thần kỳ.

11. Chayulwa Shonnu Woe (một hành giả)

Thực hành xuất sắc trong sự ẩn dấu, ngài đã đạt được cấp bậc cao của các con đường có thể hoàn toàn đưa dẫn mọi giáo lý và thực hành vô giá của Jowo Kanampa thành thực hành liên tục của ba loại người (ba loại căn cơ thượng, trung và hạ).

12. Terton Chenpo Ogyen Lingpa (một Nhà Khám phá Kho tàng)

Một Nhà Khám phá kho tàng được tiên tri bởi chính Guru Padmasambhava (Nhà Sáng lập truyền thống Nyingma và chịu trách nhiệm chính trong việc truyền bá Phật Giáo ở Tây Tạng, nếu không, Giáo Pháp sẽ bị ngăn trở bởi các thế lực xấu ác.)

13. Drubchen Rigzin Dorje (một hành giả)

Ngài là một Hành giả nổi danh có khả năng thường xuyên kinh nghiệm Đại Lạc tự nhiên, sâu xa và trong sáng.

14. Drubthop Dorje Duedul (một vị thánh)

Người vô địch nổi tiếng chiến thắng mọi sự xấu ác trong và ngoài.

15. Khechok Gyamapa (một học giả vĩ đại)

Một học giả nổi tiếng, tinh thông Tam tạng Kinh điển của Phật Pháp.

16. Trichen Dhondup Gyatso, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche Tehor Nagtsangpa thứ Nhất (1655-1702)

Được đại chúng biết tới với danh hiệu Trichen Dhondup Gyatso, ngài sinh tại Tehor Nagtsang năm 1655 và tới vùng trung tâm của Giáo Pháp (Lhasa) năm 1667. Gia nhập Nhà Hardong của Đại Học Tu viện Drepung Tashi Gomang vĩ đại, ngài đã hoàn thành một cuộc nghiên cứu sâu rộng về năm Bản Văn Chính ngay từ Duedra (các chuẩn bị để điều chỉnh những thiện xảo khi tranh luận cho việc áp dụng sau này) và được ban thưởng xứng đáng Học vị Geshe Lharampa Hạng Nhất (Học vị Tiến sĩ Siêu Hình Học) tại Đại Lễ Monlam Chenmo (1) tại Lhasa. Khi còn trẻ, ở tuổi 28, ngài trở thành Tu viện trưởng của Palden Tashi Gomang. Năm 41 tuổi, ngài trở thành Tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Palden Gyudmed. Và cuối cùng, ngài lên làm vị Hộ trì Pháp tòa Gaden lừng lẫy (chức vụ tối cao trong dòng Gelug) năm 1702 lúc 48 tuổi khi từ bỏ chức vụ Sharpa Choeje.

Ngài là Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 Tsangyang Gyatso. Ngài sống ẩn dật tại Tu viện Chayul Mangra tại miền trung thượng sau khi hoàn tất thật thành công nhiệm kỳ Gaden Tripa kéo dài 7 năm và thị tịch năm 73 tuổi (1727).

17. Gedun Tenpai Gyaltsen, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 2 (1728-1790)

Ngài được coi là một người được thêm vào đầy thú vị cho Nhà Telghong ở miền Chayul Mangra (Trung Thượng Tây Tạng) vào năm 1728. Ngài được nhận vào Chayul Mangra Gon, Trụ xứ (Trung tâm Nghiên cứu) của vị Thầy nổi tiếng phái Kadampa Geshe Shonnu Woe sau khi được xác nhận là hóa thân của người tiền nhiệm Trichen Dhondup Gyatso.

Khi đến tuổi, ngài tới Lhasa và vào Tu viện Drepung Tashi Gomang và chìm đắm trong việc nghiên cứu nghiêm ngặt tất cả năm Bản Văn Chính.

Danh tiếng học giả của ngài lan xa rộng với việc ngài biểu lộ kiến thức sâu rộng tại cuộc Tranh luận Geshe Lharampa trong Đại Lễ Monlam Chenmo giữa giáo đoàn rộng lớn các bậc uyên bác.

Ngài được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 Kelsang Gyatso bổ nhiệm làm Đạo sư-Bảo Trợ (U-la) của Tu viện Kham Den Choekhor Ling và được phái tới tỉnh Kham. Được ban cho danh hiệu nổi tiếng ‘Ertini Dalai Hothothu’ bởi việc phụng sự mẫu mực và sáng chói cho Giáo Pháp. Ngài lìa bỏ nhục thể vào năm 1790.

18. Lobsang TenpaiGyaltsen, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 3 (1791-1810)

Sinh tại Lingtsang, Kham Dherge năm 1791.

Tới Xứ trung tâm của Giáo Pháp (Lhasa), ngài vào Ling Khangtsen, Đại Học Tu viện Drepung Loseling bởi Lingtsang Den Choekhor Ling nhập vào Tu viện này – và do đó tất cả các tu sĩ của nó tới miền trung tâm để theo đuổi những nghiên cứu Phật giáo Cao cấp. Sau này ngài an trú ở Ling Khangtsen mặc dù được xác nhận là hóa thân của vị tiền nhiệm Tritul và người ta đã hết sức nỗ lực để đón chào ngài tới Tu viện Palden Gomang.

Và kể từ lúc này ‘Lingtul (hóa thân Ling) và người kế vị thứ 75 Pháp Tòa Gaden Tripa là một Giáo Thọ hay ‘yongzin’ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11. Dòng truyền thừa hóa thân vinh quang của ngài được đại chúng biết đến với tên ‘Yongzin Ling Rinpoche’ hay ‘Ling Yongzin’.

Thật không may, trong khi hoàn toàn mê mải nghiên cứu và thực hành Pháp, ngài qua đời khi chưa tốt nghiệp vào năm 1810, ở tuổi 20.

19. Ngawang Lungtok Yonten Gyatso, Yongzin Ling Rinpoche thứ 4 (vị Hộ trì Pháp tòa Gaden thứ 75 và Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 (1811-1853)

Năm 1811, ngài ra đời, thân mẫu là Dolma ở Pomed và được đặt tên là Tashi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 9 Lungtok Gyatso đặt Pháp danh cho ngài là Ngawang Lungtok Yonten Gyatso bởi ngài được xác nhận là hóa thân của vị tiền nhiệm Lobsang Tenpai Gyaltsen, là kết quả của việc tuyển chọn theo truyền thống lắc bình Vàng thiêng liêng qua vài giai đoạn.

Khi học tại Ling Khangtsen, Đại học Tu viện Drepung Loseling và là kết quả của nhiều năm nghiên cứu mãnh liệt; ngài đã cuốn hút tất cả mọi người nhờ kiến thức phi thường của ngài về toàn bộ Năm Bản Văn Chính tại Kỳ Thi Tranh luận Geshe Lharam trong Đại Lễ Monlam Chenmo (1) tại Lhasa dưới sự chứng kiến của những tu sĩ uyên bác, minh triết của SeDreGa-soom.

Sau khi hoàn tất việc nghiên cứu ‘Kinh điển’, ngài vào Đại Học Tu viện Mật thừa Gyutoe để theo đuổi những nghiên cứu Mật thừa và ngài đã tinh thông mọi chủ đề của tất cả bốn loại hay cấp độ Tantra.

Ngài đã giảng dạy rộng rãi sau khi trở thành Sharpa Choeje (vị Hộ trì Pháp tòa Gaden đang chờ ở Shartse) và ngự trên Pháp tòa Gaden Tôn quý vào năm 1847 khi đúng 40 tuổi.

Gần như đồng thời, năm 1847 ngài trở thành một Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 Khedup Gyatso.

Cùng lúc đó, ngoài vô số đệ tử sùng mộ ở Tây Tạng, Trung quốc và Mông Cổ, ngài đã làm thỏa mãn sự khao khát tâm linh của nhiều vị thánh-học giả. Khi đã thành công nhiệm kỳ của Gaden Tripa năm 1853, ngài rời bỏ thế giới này vào năm 1855.

20. Lobsang Lungtok Tenzin Thinley, Kyabje Yongzin Ling

Rinpoche thứ 5 (Sharpa Choeje) 1856-1902
Sinh năm 1856, và được xác nhận là hóa thân của vị tiền nhiệm Ngawang Lungtok Yonten Gyatso bởi ngài đã có một cách cư xử vô cùng thu hút ngay khi còn rất nhỏ.

Sau đó, ngài vào Đại Học Tu viện Drepung Loseling và Tu viện Mật thừa Gyutoe để lần lượt theo đuổi những nghiên cứu Kinh điển và Mật điển. Nhờ vô cùng thông tuệ và sau nhiều năm làm việc cật lực và nghiêm ngặt, ngài trở thành một học giả được coi là tinh thông Kinh điển lẫn Mật điển.

Chỉ đơn thuần thông hiểu kiến thức không làm ngài thỏa mãn, ngài lao vào thiền định ở những nơi cô tịch như Drigung Chayul Mangra Gon khi nỗ lực sắp xếp mọi thực hành thành một phương tiện để điều phục tâm thức phóng túng – và nỗ lực chân thành của ngài đã đạt được kết quả và được biểu hiện bởi cách hành xử an tịnh và nội quán vô cùng sâu xa về những chủ đề trọng yếu như tánh Không.

Tác phẩm ‘Bậc thang thứ 18’ của ngài được viết năm 25 tuổi, cho tới bây giờ tác phẩm đó vẫn còn rất lợi lạc.

Ngài trở thành Lama Uze (2) và tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Gyutoe rất sớm. Năm 1895, ngài trở thành Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 Thubten Gyatso, và đã truyền đạt cho Đức Đạt Lai Lạt Ma những giáo lý về Kinh điển và Mật điển bao la như đại dương của ngài.

Ngài đã thực hiện rất nhiều công việc lợi lạc cho Giáo Pháp và chúng sinh ngay cả sau khi ngài đã ngự trên Pháp Tòa Sharpa Choeje. Ngài mất năm 1902.

21. Thupten Lungtok Namgyal Thinley, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 6 (vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ 97) 1903-- 1983

Năm 1903, ngài tái sinh có ý hướng trong cõi sinh tử này vì lợi lạc của chúng sinh tại Toelung Karbok. Ngài được xác nhận là hóa thân của vị tiền nhiệm Lobsang Lungtok Tenzin Thinley qua những tiên tri hết sức rõ ràng không thể sai lạc của nhiều vị Hộ Pháp như Hiện Thân Vấn Linh Nechung của tu viện Drepung và Gadong. Hai vị Hộ Pháp này đã khẩn cầu và nhập định và được linh kiến siêu nhiên của Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng thực.

Ngay lập tức, ngài đã biên soạn một bài tán thán và cầu nguyện – Món quà tuyệt hảo của sự bất tử và mọi ước nguyện, một lời cầu nguyện đời sống vĩnh cửu – cho hóa thân trẻ tuổi. Năm 1912 (Thủy-Tý), khi lên 9 tuổi, ngài vào Đại Học Tu viện Drepung Loseling, một Trụ xứ dành cho những Nghiên cứu và Thực hành Phật giáo Cao cấp. Năm sau (năm Thủy-Ngưu) ngài nhận các giới nguyện Sa Di (Sramanera) và trong năm 1922 (năm Thủy-Tuất) khi 20 tuổi, nhận Cụ túc giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba. Năm 1924, ngài dự Vòng thi Tranh luận Geshe Lharampa trong Đại Lễ Monlam Chenmo tại Lhasa và làm mê hoặc mọi người bằng kiến thức sâu xa của ngài về Năm Bản Văn Chính.

Năm 1938 ở tuổi 36, ngài bắt đầu giữ chức vụ Tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Gyutoe. Năm 1940 ngài được bổ nhiệm làm Tsenshab (bạn và người hướng dẫn Tranh luận) của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Bốn Tenzin Gyatso và cuối cùng lên làm Thầy Phó Giáo (1941) và Trưởng Giáo (1953) cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Năm 1949 ngài đảm đương trách nhiệm Sharpa Choeje.

Ngài đã ban Cụ túc giới cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trước thánh tượng Jowo ở Lhasa trong Đại Lễ Monlam Chenmo tại Lhasa năm 1954. Năm 1965, tại Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng), ngài chính thức được tôn phong vị Hộ trì Pháp tòa Gaden phù hợp với huấn dụ được niêm kín vào năm 1960 của Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ thị ngài lên Pháp tòa Tôn quý Gaden.

Ngày 25 Tháng Mười hai năm 1983 ở tuổi 81, ngài lìa bỏ chúng ta sau khi an trụ trong thiền định sâu xa trong một thời gian dài.

22. Tenzin Lungtok Thinley Choephak, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 7 (1985- )

Sinh tại Bir, Khu Định cư Tây Tạng (Ấn Độ) năm 1985. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận ngài là hóa thân của vị tiền nhiệm Thupten Lungtok Namgyal Thinley và một lễ đăng quang đã được tổ chức sau đó.

Năm 1990, ngài chính thức được nhận vào Tu viện Drepung và Loseling với những buổi lễ và cúng dường được thực hiện cho Tăng đoàn linh thánh. Năm lên 8, từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài liên tiếp nhận giới Upasaka (giới của cư sĩ), Pravraja (giới xuất gia) và Sramanera (Sa di).

Và chẳng bao lâu, theo sự dẫn dắt của Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài lao vào hành trình tâm linh của ngài tại Đại Học Tu viện Drepung Loseling để nghiên cứu Năm Bản Văn Chính và nhiều luận giảng về chúng. Ngày 3 Tháng Ba năm 2004, khi ngài 20 tuổi, Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa làm Tu viện trưởng vừa làm Đạo sư (khen-lop), đã ban cho ngài Cụ túc giới (giới của Tỳ khưu) giữa Tăng đoàn ở bên phải và những nghi lễ puja tuyệt hảo.

Năm 2006 ngài dự Vòng Tranh luận được tổ chức cho 25 Khangtsen (nhà) của tu viện về chương 4 của Bát nhã Ba la mật (Pharchin Kaabshipa), kế đó là Vòng Tranh luận đòi hỏi cố gắng hơn nữa tại sân Tranh luận của Loseling và Drepung Tsokchen – người này sau người kia với truyền thống tốt đẹp của Tây Tạng. Tất cả những vòng thi này lên tới cực điểm với cuộc tranh luận Tsoglang quan trọng (tranh luận trước Giáo đoàn) tại Drpung Tsokchen về sự kiện kiết tường Kỷ niệm Drepung Lubum (Hàng trăm ngàn con Rồng) dưới sự chứng kiến của toàn thể giáo đoàn của Tu viện Drepung gồm toàn các tu sĩ ưu tú.

Ngài đã viếng thăm Nam Hàn, Pháp, Mon (A.P. Ấn Độ), Ladhak (Jammu, Ấn Độ) và nhiều nơi khác trong vài thời điểm và đã ban nhiều giáo lý cho hàng ngàn người khao khát sùng mộ tùy thuộc vào những trải nghiệm và mức độ tâm linh của họ.

Hiện tại, ngài đang hoàn toàn chú tâm vào việc nghiên cứu và thực hành Phật Pháp với hy vọng thi đua những công hạnh vĩ đại của người tiền nhiệm của ngài, vì lợi ích của chúng sinh và Phật Pháp.

Những ai muốn biết thêm về ‘Kyabje Yongzin Ling Rinpoche’ xin tham khảo:

1. Tiểu sử Tràng hoa Quý báu của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche, Bậc Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ 97 của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.
2. Các Tiểu sử Vắn tắt của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche (các dòng hóa thân) – do Ban Quản lý Yongzin Ling Ladrang biên soạn.
Nguyên tác: Brief biographies of incarnate lineage of Kyabje Yongzin Ling Rinpoche - the all-pervasive guardian of ‘Ocean of Apostles and Mandala’
http://www.loselingmonastery.org/index.php?id=52&type=p

Chú thích:
(1) Monlam Chenmo, cũng được gọi là Đại Lễ Cầu nguyện được tổ chức từ ngày mồng 4 tới 11 tháng giêng theo lịch Tây Tạng. Đây là buổi lễ tôn giáo vĩ đại nhất ở Tây Tạng và do Đức Tsong Khapa Losang Drakpa (1357-1419), triết gia, vị Thánh, Đạo sư, nhà cải cách xã hội vĩ đại, và người sáng lập truyền thống Geluk của Phật giáo Tây Tạng thiết lập.
(2) Lama Uze: tương đương với chức Phụ tá Tu viện trưởng.
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

CUỘC ĐỜI CỦA CHODEN RINPOCHE, MỘT THIỀN GIẢ ẨN DẬT


“The Life of a Hidden Meditator”
Bản Tiếng Anh / English Version: [READ HERE]
Bản tiếng Việt / Vietnamese version: [PDF]
Choden Rinpoche
Choden Rinpoche - thuộc Tu viện Sera Je - là một trong những Lạt ma phái Gelug cao cấp nhất, trước năm 1985 ngài hầu như không được biết tới ở ngoài xứ Tây Tạng. Sau năm 1959, ngài không trốn khỏi quê hương mà cũng không bị cầm tù; ngài sống trong một căn nhà ở Lhasa, không bao giờ ra khỏi căn phòng nhỏ, tăm tối, trống trải trong mười chín năm, ngay cả khi đi vệ sinh, và không bao giờ cạo râu cắt tóc.

Thị giả của Rinpoche là tu sĩ Tseten Gelek thuộc Tu viện Sera Je nói: “Ngài dùng toàn bộ thời gian để thiền định ở trên giường. Người ta phải đổi chăn mền mỗi tháng một lần vì chúng nặng mùi mồ hôi. Bởi giả làm một người tàn phế nên ngài thường dùng một cái bô để đi vệ sinh. Trước năm 1980, ngài không trò chuyện với bất kỳ ai, ngoại trừ người mang thực phẩm vào phòng.”
“Vấn đề chính tôi muốn làm là thực hành Pháp một cách chân thành, cho dù những điều gì đang xảy ra ở bên ngòai.” Rinpoche nói với tạp chí Mạn Đà La vào tháng Sáu trong chuyến viếng thăm Học viện Vajrapani ở California kéo dài hai tháng. “Đây là động lực của tôi, hoàn toàn đối nghịch với tám mối bận tâm thế tục.”
Ở đây, Rinpoche thuật lại cho chúng tôi về cuộc đời ngài. (Những chữ in nghiêng là của Thượng Tọa Tseten.)

Choden Rinpoche sinh năm 1933 gần Tu viện Rabten tại Rongbo miền đông Tây Tạng. Năm lên ba tuổi ngài được xác nhận là Hóa Thân của Rinpoche đời trước, bản thân vị này từng là ứng viên cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Hai, Thinley Gyatso. Việc ra đời của Choden Rinpoche đời trước có những dấu hiệu đầy ý nghĩa. Sau khi Hóa Thân được chọn lựa, người ta không muốn mọi người biết ngài như thế, vì thế họ tôn ngài làm Lạt ma của Tu viện Rabten.
Từ 3 tới 8 tuổi tôi được một người chú sống trong một ẩn thất chăm sóc, và năm lên 8 tôi vào Tu viện Rabten tại địa phương, ở đó tôi học tất cả những lời nguyện và các nghi lễ. Khi tôi 6 tuổi, lần đầu tiên tôi gặp Pabonka Rinpoche đời trước, và tại Tu viện Rabten tôi đã nhận từ ngài nhiều giáo lý. Sau đó tôi cũng thọ giới Sa Di từ ngài.
Vào lúc đó tôi không biết nhiều về thực hành. Khi tôi được 10 tuổi, một cựu Tu viện trưởng của Tu viện Drepung Loseling dạy tôi lam-rim và tôi dự những giảng khóa, và chính trong khoảng thời gian này tôi bắt đầu quan tâm tới việc thực hành.
Tôi không nhớ thật rõ ràng lần đầu tiên tôi được gặp Pabongka Rinpoche, nhưng điều tôi nhớ là Rinpoche rất vui vẻ đối với tôi và tôi thực sự ngưỡng mộ mọi điều Rinpoche đã làm: cách ngài đi, cách ngài phục sức, mọi sự. Bởi thán phục ngài nhưthế nên tôi cảm nghĩ rằng: “Giá như tôi có thể giống như ngài.”
Pabongka Rinpoche khuyên tôi đừng ở tu viện địa phương mà tới những tu viện chính gần Lhasa để tu học, như Sera, Ganden hay Drepung. Tôi vào tới tu viện Sera Je năm 15 tuổi. Tất cả những tu viện Gelug địa phương trải rộng khắp Tây Tạng và trực thuộc một trong ba tu viện trung tâm, vì thế bạn tuân theo điều đó một cách phù hợp. Ngài Choden Rinpoche đời trước đã học tập tại Sera Je và nghiên cứu chương trình đào tạo geshe tại đó.

Cuộc hành trình tới Lhasa mất một tháng rưỡi. Bởi lúc đó không có những con đường thích hợp và bạn phải đi chậm với một bày bò yak và nhiều người khác, giống như một đoàn lữ hành. Đó là vào mùa đông và khi đó trời rất, rất lạnh. Bạn phải mặc chuba (1) bằng da thú, vì thế bạn không thể du hành trong y phục tu sĩ.
Tôi nhớ là mình phải ngủ bên bờ đường và đôi khi đi ngược lên những vùng hoàn toàn phủ tuyết. Trời rất lạnh nên tuyết không tan được và bạn phải phủi tuyết khi thức dậy. Không có thứ gì như một cái lều để trú thân. Bạn cũng phải mang theo mọi thứ cần dùng trên lưng những thú vật.
Vào lúc ấy không có dấu hiệu gì của quân đội Trung Quốc (đó là năm 1948), mặc dù đã có những trường hợp các nhóm nhỏ quân đội tiến vào Tây Tạng. Dân chúng sợ Cộng Sản, sợ loại người đó trong xã hội.
Lúc đầu nhóm chúng tôi có ngựa để cưỡi và cũng có rất nhiều bò yak để chuyên chở vật dụng, nhưng về sau chúng tôi bắt đầu cưỡi bò yak thay vì ngựa. Tôi du hành với cha, mẹ và một người anh. Gia đình tôi tới Lhasa để thực hiện một cuộc hành hương, cúng dường và đi nhiễu tại những ngôi chùa ở Lhasa. Sau năm hay sáu tháng, chúng tôi quay trở về nhà.

Năng lực của sự tranh luận như một nền tảng cho những chứng ngộ: Tôi theo những giảng khóa đều đặn của Tu viện Sera, học tập mỗi một trong năm bản văn chính. Đối với phần đầu của việc học tập, bạn cùng các tu sĩ thực hiện những đề tài nghiên cứu, nhưng khi bắt đầu việc nghiên cứu của geshe thì họ trao lại việc khởi động cho các tulku. Tôi học cùng lớp những vị như Geshe Sopa Rinpoche, Geshe Ugyen Tsetsn và Geshe Legden trong hai hay ba năm.
Tại tu viện Sera chương trình chính là triết học, chương trình của geshe (Tiến sĩ Phật Học). Nhưng có những ẩn thất khác nhau của các Lạt Ma, và các ngài sẽ ban giáo lý. Tôi đã tham dự nhiều buổi giảng. Những vị Thầy chính vào thời đó là Bari Rinpoche, Trijang Rinpoche và Ling Rinpoche. Tôi rất thích những giáo lý này, mặc dù đôi khi trong chương trình học tập tại Sera, khi bạn bắt đầu một phần rất quan trọng của bản văn đang được nghiên cứu, bạn không được phép đi tới những giảng khóa khác này.
Tôi thích tranh luận và không quá tệ môn đó. Tôi đã học với một số trong những nhà tranh luận giỏi nhất tại tu viện, như Geshe Loga và Geshe Losang Wangchuk. Sau khi được các ngài hướng dẫn tôi đã có thể tranh luận rất giỏi.
Điều khiến bạn có thể được coi là một nhà tranh luận giỏi là khi tranh luận về một chủ đề được đưa ra, bạn có thể vạch ra cho người khác quan điểm sai lầm của họ; bạn có thể tranh luận về điều đó bằng cách giải thích tại sao quan điểm của họ không phải là quan điểm đúng đắn, sử dụng luận lý học, lập luận, và bằng cách trích dẫn tài liệu Kinh điển. Nhân việc tranh luận bạn cho họ thấy quan điểm sai lầm của họ và họ có thể hoàn toàn từ bỏ nó. Đó là dấu hiệu của một nhà tranh luận giỏi: có thể soi sáng cho đối thủ khuyết điểm của họ và tạo lập nền tảng cho sự hiểu biết đúng đắn nhờ luận lý học và sự thấu suốt Kinh điển.
Với sự tranh luận, bản thân bạn phát triển một sự xác tín rất vững chắc về những gì bạn hiểu biết bởi bạn sử dụng luận lý học, lập luận và việc trích dẫn Kinh điển. Khi bạn có thể làm như thế thì bất kỳ điều gì bạn hiểu biết, nó cũng rất vững chắc trong tâm bạn [và vì thế nó là một nền tảng cho những sự chứng ngộ.]
Nói chung người ta nói rằng trong sân tranh luận của các tu viện, việc bạn chỉ vỗ đôi bàn tay (cử chỉ theo nghi lễ) một lần trong cuộc tranh luận thì còn lợi lạc hơn việc thiền định trong nhiều năm - năng lực của sự tranh luận thì như thế đấy.
Thường thì ở Sera, Ganden và Drepung bạn nghiên cứu ý nghĩa của tất cả Kinh điển; sau đó bạn vào một trong những Học viện Mật thừa và nghiên cứu ý nghĩa của tất cả các tantra. Đây là tất cả những gì cần phải thiền định. Có những người sau khi nghiên cứu đã trở thành ẩn sĩ, hiến dâng trọn đời mình để thiền định. Những người khác sống trong tu viện và thực hiện mọi sự thiền định trong môi trường tu viện. Những người khác chọn con đường trở về những tu viện địa phương của họ trong các làng mạc hay thị trấn nào nơi họ xuất thân để giảng dạy hay thiền định.
Thầy tôi, Geshe Losang Wangchuk, thường nói rằng ở trong một tu viện và giảng dạy thì ích lợi hơn là ra đi để thiền định, bởi khi ngài biểu lộ ước muốn nhập thất, Trijang Rinpoche đã khuyên ngài cưỡng lại ước muốn đó, vạch cho ngài thấy những lợi ích của việc giảng dạy cho người khác thì hơn hẳn việc tự mình ra đi để thiền định. Khi giảng dạy bạn mang lại lợi lạc cho rất nhiều người, nhưng khi bạn thiền định thì chủ yếu là bạn làm lợi lạc cho bản thân.
Triết học không được sắp đặt cho việc thiền định, vì thế những gì bạn thiền định là những điều giống như các giai đoạn khác nhau của con đường dẫn tới Giác ngộ, là điều hoàn toàn được sắp đặt cho thiền định. Khi ấy bạn có thể sử dụng mọi chất liệu vật chất, mọi thông tin của những nghiên cứu triết học và bạn có thể áp dụng nó để làm phong phú, để tô điểm cho việc thiền định của bạn.

Một ngày tiêu biểu ở Tu viện Sera: Buổi sáng ở tu viện, ngay trước khi bình minh, những lời cầu nguyện buổi sáng đã bắt đầu và kéo dài khoảng hai giờ. Sau đó khởi đầu những khóa tranh luận. Khoảng 11 giờ bạn cùng mọi người trở vào để cầu nguyện, và trà được dọn ra. Đó là bữa trưa của bạn. Tu viện chỉ cho món trà, vì thế các tu sĩ sẽ tới với một nắm tsampa, và đó là bữa ăn trưa của họ.
Sau đó bạn tranh luận, rồi cầu nguyện, rồi lại tranh luận. Sau khóa tranh luận cuối cùng bạn có thể trải qua một giờ rưỡi trong phòng của bạn.
Không có những lớp học được tiêu chuẩn hóa - bất kỳ khi nào có giờ rảnh là có lớp học. Có những thời kỳ trong tu viện không có các khóa tranh luận, và chính trong thời gian ấy những lớp triết học rất sôi nổi.
Sau một tiếng rưỡi giải lao bạn tụ họp để tham dự một khóa tranh luận rất dài, và tiếp theo là một khóa cầu nguyện, ở đó bạn tụng Hai mươi mốt Lời Tán thán Đức Tara và những lời cầu nguyện Bổn Tôn Dù Trắng (Bạch Tán Cái) - những bài tương tự như vậy. Sau đó bạn cố gắng thực hiện tiết tranh luận khác, và khi mặt trời sắp lặn bạn được nghỉ giải lao. Kể từ lúc mặt trời lặn, mọi điều bạn đã nhớ bạn phải tụng niệm để không quên mất. Nếu bạn học các lớp cao thì bạn được phép ở lại trong phòng bạn để tụng niệm, nhưng nếu bạn còn trẻ thì bạn phải ở tại những khoảng đất trống là nơi diễn ra những cuộc trì tụng. Bạn hát lớn tiếng một mình bạn.
Trong lúc đó có thể có nhiều người tụng những bài cầu nguyện đến tận bình minh ngày hôm sau. Lớp Trung Đạo và lớp của những người nghiên cứu những sự Viên mãn (ba la mật) lần lượt diễn ra suốt đêm. Khi một lớp sắp đi ngủ, lớp khác sẽ bắt đầu khóa tranh luận của họ, và họ ở lại đó mãi cho tới khi đọc những lời cầu nguyện buổi sáng. Vì thế suốt ngày hai mươi bốn giờ luôn vang lên âm thanh của Pháp. Chẳng bao giờ có thời điểm nào mà bạn không nghe Pháp âm trong tu viện.

Rinpoche đã hoàn thành mọi việc nghiên cứu cần thiết vào năm 28 tuổi, đạt được thứ hạng Lharam cao cấp nhất. Trijang Rinpoche và nhiều Lạt ma cao cấp yêu cầu ngài nhanh chóng lấy học vị geshe (tiến sĩ Phật Học), nhưng vào lúc đó guru gốc của ngài, là Tu viện trưởng của Sera Je, không cho phép ngài trở thành một geshe. Vị Thầy này muốn Rinpoche tiếp tục nghiên cứu. Ngài lại trải qua những sự nghiên cứu, chủ yếu là các bản văn về những giới nguyện tu sĩ, Vinaya (Luật Học). Ngài nghiên cứu chúng nhiều lần. Rồi người Trung Quốc đến.
Ngài không bao giờ mặc y phục đặc biệt của tulku, và mặc dù xuất thân từ một gia đình viên chức, ngài không bao giờ có labrang riêng, căn hộ riêng, tại Sera. Ngài hòa nhập với những tu sĩ bình thường và mọi người yêu mến ngài.
Các Guru chính của Rinpoche là Pabongka Rinpoche, Trijang Rinpoche và Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngay từ lúc còn trẻ mục đích chính yếu trong việc nghiên cứu của ngài là có thể thực hành những gì ngài đã học, vì thế ngài tập trung vào ý nghĩa của Kinh điển. Lúc ngài khoảng 10 tuổi, ngài có một ý hướng to lớn là thực hành những điều ngài học tập.
Tôi lưu lại lớp Lharam trong nhiều năm. Một trong những vị Thầy của tôi là một Tu viện trưởng bảo tôi: “Con còn trẻ. Lý do gì khiến con phải vội lấy học vị geshe? Hãy tiếp tục nghiên cứu.” Khi tôi có thể lấy học vị geshe thì tôi khoảng 28 tuổi. Khi người Trung Quốc tới thì tôi 29 tuổi, vì thế sau đó tôi chẳng bao giờ có sự may mắn.
Tôi đã hoàn thành việc học tập trong khoảng mười bốn năm, nhưng nếu đi theo hệ thống của tu viện thì bạn mất khoảng ba mươi năm. Như thế những tu sĩ phải mất một thời gian dài mới lấy được học vị geshe. Đó là vì ý nghĩa của các Kinh điển thì rất, rất sâu xa. Bạn càng có thể phân tích nó thì sự hiểu biết sâu sắc của bạn càng trở nên sáng tỏ. Hệ thống này sản sinh ra một số trong những học giả xuất sắc nhất.
Cuộc nổi dậy ở Lhasa năm 1959: Trong thời gian của cuộc nổi dậy chống Trung Cộng, hầu hết các tu sĩ đã trốn thoát. Vì thế nhiều binh lính đã tới và các tu sĩ lo sợ các tu viện sẽ bị phá hủy. Trước cuộc chiếm đóng có hàng ngàn tu sĩ, nhưng chỉ còn hai hay ba trăm người ở lại tu viện Sera. Tôi vẫn ở tu viện Sera.
Một hôm, vào lúc rạng đông, binh lính Trung Quốc bao vây tu viện, vây bắt tất cả các tu sĩ và gom chúng tôi trong một cái sân. Sau đó họ lục soát tu viện thật kỹ lưỡng. Tất cả các tu sĩ bị quân lính trang bị vũ khí bao vây.
Chúng tôi nghe nói rằng ở miền đông Tây Tạng quân đội đã vây bắt tất cả các tu sĩ và bắn chết họ, vì thế mọi người lo sợ điều đó sẽ xảy ra. Từ bình minh cho tới hoàng hôn tất cả các tu sĩ bị đứng trong sân. Sau đó lính Trung Quốc cho các tu sĩ sắp thành một hàng và mang tất cả đi - mọi người nói: “Chúng ta bị mang đi giết,” nhưng sự việc không xảy ra như vậy, họ chỉ cầm tù mọi người.
Tôi ở trong tù khoảng một tháng. Bởi không có sẵn một nhà tù, họ đã dùng một trong những ngôi chùa chính của Sera Je, và họ không cho bất kỳ ai ra ngoài, ngay cả để đi tiểu! Chúng tôi phải dùng một cái thùng lớn thường được sử dụng để đựng nước cúng dường - bạn không thể quét dọn toàn thể sàn nhà.
Đôi khi vào giữa trưa họ cho chúng tôi nước ấm để uống, và nếu những ai có tsampa của riêng họ thì họ dùng nó với nước. Hai hay ba trăm tu sĩ chúng tôi sống như thế trong gần một tháng, Họ bắt đầu cách ly tất cả các Lạt ma, geshe, và tất cả những ai giữ chức vụ quản lý. Họ phân loại người, và những tu sĩ bình thường bị giam giữ thành một nhóm. Họ thường nói: “Những người không có danh hiệu là bạn của chúng tôi, còn những người có tước vị thì là kẻ thù.”
Họ dùng những nhóm tu sĩ bình thường để khám phá những nhóm người có tước vị. Nếu những tu sĩ bình thường nào có thể bảo đảm rằng một người có tước vị không tham gia cuộc nổi dậy và không nói điều gì về người Trung Quốc thì vị ấy cũng được thả ra.
Khi sống trong tu viện tôi thường hòa hợp với những tu sĩ bình thường, vì thế một số tu sĩ đã bảo đảm cho tôi, nói rằng mặc dù là một Rinpoche nhưng tôi chẳng phù hợp chút nào với danh hiệu đó, vì thế tôi được phóng thích.
Họ tổ chức những bài học chính trị trong tu viện, dạy các tu sĩ phản bác tôn giáo, phản bác tu viện và mọi sự thực hành. Họ thả từng người có tước vị ra trong một lát, và mọi người - tất cả những tu sĩ bình thường - phải đánh đập người ấy. Nếu những tu sĩ này không đánh thì họ bị coi là những người ủng hộ người có tước vị. Một số vị bị đánh trầm trọng tới nỗi sau đó không đứng dậy nổi.
Tôi bị một chứng bệnh tim nên khi nhìn thấy những điều này xảy ra tôi đã ngã bệnh trầm trọng, vì thế tôi được đưa đi bệnh viện để kiểm tra. Tôi tới Lhasa và ở đó năm hay sáu tháng.
Vào tháng hai năm 1960, họ vây bắt tất cả các tu sĩ sống ở Lhasa và nói rằng chúng tôi không thể ở đó mà phải trở về tu viện nơi chúng tôi xuất thân. Tôi trở về Sera. Tôi vẫn sống như một tu sĩ và đắp y.
Khi tôi trở lại tu viện, ở đó có một cuộc tổng phê bình và hạ nhục Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi bạn bị cưỡng bách dự những cuộc biểu tình này, bạn không có sự chọn lựa, bạn phải tham dự vào việc lăng nhục. Trước đó tôi không được khỏe vì thế tôi tìm cách ngủ và không phải tham dự. Người Trung Quốc đưa bác sĩ tới kiểm tra mạch của tôi, và vì bị bệnh tim nên mạch của tôi nhảy rất mạnh, tôi được miễn dự những cuộc biểu tình này.
Trong khi đó, điều kiện sống tại tu viện càng lúc càng căng thẳng. Khi ấy dân chúng ở Lhasa được tự do hơn những người trong tu viện một chút, vì thế khi nghe nói các tu sĩ khốn khổ như thế, các cư sĩ nói những điều như: “Tôi mong là mình không bao giờ bị tái sinh làm tu sĩ!” Đã tới thời người ta nói ngay cả những điều như thế! Sau đó tôi rời tu viện và tới Lhasa, ở đó tôi sống với một người bà con.
Chẳng bao giờ tôi có ý tưởng trốn đi. Người Trung Quốc thường lập đi lập lại: “Tuyệt đối các ông không thể nào trốn thoát,” và người ta cũng có quá ít thông tin về cách thực hiện điều đó khiến cho ngay cả việc trốn đi cũng không là một chọn lựa để cân nhắc trong tâm bạn.
Nhập thất mười chín năm: Tôi thực hiện nhập thất Chulen (2) trong một thời gian, nhưng người Trung Quốc ngăn tôi lại. Họ nói bạn có thể thực hành Pháp, nhưng tới khi thực hành thì có nhiều sự hạn chế, và họ cảm thấy Pháp không tốt và các thực hành không có thực chất. Vì thế tôi sống ở Lhasa tới khoảng năm 1964, làm các thực hành chính Guhyasamaja, Yamantaka và Heruka, và ban một vài giáo lý ở nơi nào có thể.
Vào lúc xảy ra cuộc Cách mạng Văn hóa năm 1965, mọi sự thậm chí còn trở nên căng thẳng hơn trước. Chính vào tháng Tám hay tháng Chín năm 1966 họ bắt đầu phá hủy điện Jokhang, tất cả những linh vật trong các ngôi chùa, và cũng như tất cả những linh vật mọi người cất giữ tại nhà riêng; đó là một cuộc hủy diệt tập thể. Ngoại trừ nơi có pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và một gian phòng của các Pháp Vương, họ đã tiêu hủy toàn thể ngôi điện.
Điện Potala không bị phá hủy nhiều như những nơi khác. Tại Sera, Drepung và Ganden, một số các ngôi chùa chính có phần được bỏ mặc trong một điều kiện tốt đẹp, nhưng những đền chùa khác đã bị phá hủy. Năm 1969 là năm họ biến Ganden thành bình địa.
Cùng với cuộc Cách mạng Văn hóa tôi ngừng hoàn toàn mọi thực hành bên ngoài. Tôi sống với những người thân ở Lhasa. Tôi tuyệt đối không bước ra ngoài. Trong thời gian này tôi ngủ. Tôi sống trong một căn phòng trong nhà của vợ người em họ tôi, cô ta mang hai dòng máu Tây Tạng và Nepal. Người Trung Quốc tới cả đêm lẫn ngày bất kỳ lúc nào- đôi khi rất sớm, đôi khi trễ - để kiểm tra xem tôi đang làm gì, tôi có ngủ không, tôi có thực sự bị bệnh hay không. Khi họ đi khỏi tôi ngồi dậy và thực hành.
Vào thời điểm đó bạn hoàn toàn không có những vật linh thánh, không có các pho tượng hay Kinh điển. Nếu họ nhìn thấy bất kỳ Kinh văn nào thì bạn sẽ bị rắc rối lớn. Cho dù bạn mấp máy môi không phát ra âm thanh thì bạn cũng bị phiền phức, bởi họ nghĩ rằng bạn đang cầu nguyện. Tôi có một vài hột chuỗi hột nhưng phải cất dấu đi. Tôi có một sợi chuỗi nhỏ và khi người ta tới kiểm tra tôi đã dấu nó trong một cái túi bí mật trong quần áo ngay trên đầu gối.
Bởi tôi sống ẩn dấu không bao giờ ra ngoài như thế nên người ta nói rằng tôi đang nhập thất. Nhưng nó không đích thực là một cuộc nhập thất với những vật cúng dường, những điều thuộc về nghi lễ, và v.v.. Trong thời gian này tôi nghĩ tưởng về những giai đoạn khác nhau của con đường dẫn tới Giác ngộ, cũng như Guhyasamaya, Heruka, Yamantaka, tất cả những yoga của giai đoạn phát triển. Và khi có thời giờ thì tôi hoàn thành túc số thần chú của mỗi vị Bổn Tôn.
Trong bất kỳ trường hợp nào, bạn không cần tới ngoại vật để thực hành Pháp. Nó hoàn toàn ở trong tim bạn, trong tâm bạn. Đối với những sự chứng ngộ: bạn không kinh nghiệm những sự chứng ngộ của ba phương diện chính yếu của con đường, (3) nhưng bạn có một sự từ bỏ nhỏ bé, và bởi điều đó bạn có thể sống như thế.

Những thuận lợi của việc sống biệt lập: Một lý do tốt đẹp khi sống ở Lhasa là nếu bạn ra ngoài, bạn phải làm những gì người Trung Quốc bảo, và như thế bạn sẽ tich tập rất nhiều nghiệp xấu.Tôi không làm bất kỳ điều gì mâu thuẫn với Pháp; tôi muốn thực hành Pháp, bởi lý do đó tôi không ra khỏi nhà. Người Trung Quốc đã dùng nhiều thủ đoạn để buộc tôi phải làm việc cho họ. Trước hết họ cố hăm dọa tôi, và khi điều đó không có hiệu quả thì họ mời tôi và nhiều geshe và Lama cao cấp chịu sự quản lý của họ; họ nói họ sẽ cấp cho một căn nhà, xe hơi, thực phẩm, tiền bạc. Nhưng tôi không muốn làm điều đó bởi khi ấy tôi sẽ phải làm mọi điều họ bảo, là những điều hoàn toàn mâu thuẫn với Pháp. Điều chính yếu tôi muốn làm là thực hành Pháp một cách chân thành, cho dù những điều gì đang xảy ra ở bên ngoài. Đây là động lực của tôi, hoàn toàn đối nghịch với tám mối bận tâm thế tục.
Đời sau thì quan trọng hơn đời này - cuộc đời này hoàn toàn như một giấc mộng. Vì thế nếu bạn đi và làm như người Trung Quốc bảo, bạn sẽ có được một căn nhà và xe hơi tốt, bạn có thể hưởng thụ rất nhiều thứ, nhưng điều này sẽ khiến bạn rơi xuống những cõi thấp, ở đó bạn sẽ kinh nghiệm những đau khổ trong nhiều kiếp. Những đời sau thì quan trọng hơn cuộc đời này nhiều. Để làm việc cho những đời sau, tôi đã sống ẩn dật để thực hành.
Khi chết chúng ta không hoàn toàn biến mất. Chúng ta phải tái sinh, và trừ những gì nghiệp của ta định đoạt, ta không có bất kỳ chọn lựa nào trong việc tái sinh nơi những cõi thấp hay cõi cao. Nếu bạn đã từng làm những điều tốt lành trong đời này thì bạn có thể tái sinh trong cõi người, và bạn có thể vui hưởng kết quả của những hành động này. Nếu bạn làm những hành động xấu, nghiệp không biến mất, trong tương lai bạn cũng phải trải nghiệm ngay cả nghiệp nhỏ bé nhất bạn từng tích tập.
Tương lai thì rất dài, kéo dài hằng nhiều kiếp. Cuộc đời này rất ngắn, nó chỉ là một điều tưởng tượng, chỉ là một giấc mộng. Tâm bạn tiếp nối vô tận, và trong đời sau khi bạn chết, một lần nữa nó không biến mất, và bạn lại tiếp tục trong đời sau, và đời kế tiếp - bạn phải trải qua nhiều cuộc đời. Vì thế tất cả những điều này là do những hành vi hiện tại định đoạt.
Bạn không có sự chọn lựa. Vì thế hành động hiện tại thì rất quan trọng. Cuộc đời này rất ngắn, có lẽ chỉ một trăm năm - rất nhỏ nhoi nếu so với những đời sau. Đây là lý do tại sao những đời sau thì quan trọng hơn đời này.
Nếu nhìn từ quan điểm của tôn giáo, của Pháp, thì việc sống theo cách này là một thành  tựu vĩ đại. Và theo quan điểm của đời này thì đó cũng là lợi lạc to lớn. Trong đời này, nếu tôi không từng làm những điều tôi đã làm thì tôi đã phải đi theo người Trung Quốc và kiếm được một căn nhà, xe hơi và địa vị cao, nhưng khi ấy tôi sẽ phải hành hạ người khác và gây rất nhiều đau khổ cho chúng sinh bình thường. Và nếu tôi hành xử như một người bình thường, không có địa vị cao, v.v.. tôi sẽ phải trải qua rất nhiều đau khổ, giống như tất cả những người Tây Tạng đã phải chịu đựng. Nhưng trong đời này tôi không phải trải nghiệm bất kỳ điều gì trong những việc này. Đây là những điều thuận lợi của lối sống mà tôi đã trải qua.

Thuận lợi khác là tôi được nổi danh trong việc nhập thất hai mươi năm: đây cũng là một lợi lạc liên quan tới đời này! Nó sẽ khiến cho những người khác suy nghĩ: “Thật lạ lùng. Có lẽ Pháp thực sự ích lợi, có lẽ nó chân chính.” Nó có thể làm những người khác được lợi lạc theo cách này.
Tôi đã trải nghiệm rất ít vấn đề trong những năm đó. Tôi chỉ có chút rắc rối về bao tử; và khi tôi bắt đầu bước đi thì không đau đớn gì, nhưng lúc nào tôi cũng cảm thấy chân tôi đang qụy xuống! Những người khác nhận ra rằng tôi không thể đi lại bình thường. Cũng thế, bởi trong phòng tối tăm nên tôi không thoải mái khi bước ra ngoài ánh sáng - nó chói quá. Đôi khi có một ngọn nến nhỏ, nhưng tôi không thực sự dùng nó. Ngay cả bây giờ ở Sera tôi cũng thích ngồi trong bóng tối hơn.

Sau năm 1979 người ta được tự do chút ít: Sau khi Mao trạch Đông mất năm 1979 thì mọi người được tự do hơn chút ít. Nhiều Lạt ma và Geshe tới nhà Rinpoche để nhận các giáo lý.
Ngài đã ban một ít giáo lý, nhưng không công khai - chỉ trong gian phòng nhỏ của ngài cho một, hai hay ba người. Người ta biết tới ngài. Năm 1979, ngài đã cạo râu và cắt mái tóc dài.
Sau đó ngài nhận những bức thư của Hóa Thân của Shantideva ở Tu viện Sera tại Ấn Độ và từ tu viện này thỉnh mời ngài tới ban giáo lý, để trao truyền những điều ngài đã học. Ngài cố gắng tìm kiếm một hộ chiếu nhưng lúc đầu điều đó không thực hiện được.
Từ năm 1965 tới đầu năm 1980, khi tôi sống hoàn toàn ẩn dật, người em họ tôi không cho phép bất kỳ ai vào thăm tôi. Ribur Rinpoche tới thăm tôi và em họ tôi cãi nhau với ngài, không cho Ribur Rinpoche thăm viếng. Lý do chính khiến Ribur Rinpoche tới thăm tôi là bởi chính phủ đang thành lập một ủy ban gồm các tulku nhằm nghiên cứu di sản của Tây Tạng, chẳng hạn như những pho tượng và Kinh điển. Mặc dù chính phủ thành lập nó, nhưng các Lạt ma cao cấp đang thực hiện công trình vì các ngài là những người uyên bác nhất. Trong khoảng thời gian này những người trước đây bị người Trung Hoa cách chức đã được phục hồi bởi họ có năng lực và kiến thức. Họ được gọi là ủy ban Norbulingka.
Người Trung Quốc muốn tôi gia nhập rất nhiều ủy ban mà họ đang thành lập, nhưng vì tôi không tham gia gì hết nên họ không thích tôi lắm. Từ năm 1981 trở đi, họ cấp visa để mọi người có thể đi Ấn Độ và Nepal, nhưng mặc dù đã xin tôi chẳng bao giờ được chấp thuận.
Rinpoche đã cố gắng suốt trong ba năm để có hộ chiếu đi Ấn Độ, và cuối cùng một người bạn thân của ngài là Pagpala Gelek Mamgyal, một Lạt ma cao cấp nhất của tỉnh Kham và đứng hàng thứ ba ở Tây Tạng, đang giữ một địa vị cao trong vùng tự trị Tây Tạng (hiện vị này giữ chức vụ Ban Thiền Lạt ma), và ông đã giúp Rinpoche có hộ chiếu. Cuối cùng vào năm 1985 Rinpoche kiếm được hộ chiếu và có thể đi Ấn Độ một cách hợp pháp.

Ấn Độ: Khi tới Dharamsala, tôi tới đúng lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma ban lễ nhập môn Guhyasamaja, Heruka và Yamantaka. Tôi rất sung sướng được nhìn thấy Ngài, và Ngài cũng rất vui mừng. Ngài nói: “Việc ngài đến vào một dịp tốt lành như thế để nhận những lễ nhập môn này có nghĩa là chúng ta có samaya rất thanh tịnh.”
Tôi đã nhận nhập môn Kalachakra từ Đức Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1985. Tôi hỏi Ngài tôi nên làm gì: trở lại Tây Tạng hay ở lại. Ngài bảo tôi ở lại và giảng dạy những gì tôi đã học và truyền bá Giáo Pháp.
Về sau này Ngài bảo tôi rằng tại Nepal không có nhiều Lạt ma Gelug cao cấp, vì thế nếu tôi tới đó thì thật là tốt đẹp. Tôi đã ở đó trong tám hay chín tháng nhưng mắc bệnh và phải trải qua một ca mổ, vì thế tôi không làm lợi lạc nhiều. Tôi xin Ngài thứ lỗi đã không ở Nepal được vì các tu sĩ của tu viện Sera Je ở miền nam Ấn Độ thỉnh cầu tôi tới giảng dạy.
Đức Đạt Lai Lạt Ma bảo tôi đừng bao giờ làm đứt đoạn những điều tôi hứa nguyện trong hiện tại và giảng dạy mọi điều tôi đã học, vì thế từ lúc đó tôi sống trong Tu viện Sera và tới Dharamsala bất kỳ khi nào Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng dạy.
Trong mười lăm năm, Rinpoche chủ yếu giảng dạy chương trình đào tạo học vị geshe tại Tu viện Sera Je ở miền Nam Ấn Độ. Ngài thường ở tại Sera, và ngài ban những giáo lý về năm chủ đề nghiên cứu chính.Ngài có ba lớp vào buổi sáng và bốn lớp vào buổi chiều; ngài có nhiều học trò, từ những cậu bé cho tới các geshe. Vào ngày thứ Ba, ngày nghỉ tại Sera, Rinpoche dạy văn phạm, thi ca và tantra cho một vài geshe. Đôi khi Rinpoche sẽ ban những lễ nhập môn hay giáo lý lam-rim tại Sera, và có rất nhiều tu sĩ tới dự nên phải sử dụng phòng hát tụng chính.
Sức khỏe của ngài rất tốt. Năm 1996 chúng tôi trở về Tây Tạng, và thực hiện một chuyến hành hương suốt Trung Quốc và hầu như xuyên qua Tây Tạng.
Rinpoche tới Tây phương lần đầu tiên vào năm 1998. Thượng Tọa Massimo Stordi mời ngài tới Ý, và một Rinpoche ở Ý, cũng như Geshe Soepa tại Đức. Trước đó Rinpoche không đi bất kỳ nơi đâu bởi Sera cần ngài, bây giờ Sera có nhiều geshe, vì thế Rinpoche có thể du hành.
Lạt ma Zopa Rinpoche đã khẩn cầu một lung của toàn bộ một bản văn của Je Tsong Khapa và của ba mươi sáu vị đệ tử chính của Ngài, nhưng không có may mắn để thực hiện điều này. Lạt ma Zopa Rinpoche thỉnh cầu Choden Rinpoche tới ban một lễ nhập môn Vajrapani (Kim Cương Thủ) Bí mật tại Học viện Vajrapani ở California và giảng dạy trong khóa nhập thất.
Rinpoche đã nghiên cứu Vinaya (Luật) thật sâu rộng. Tại Sera ngài được gọi là Vị Trì giữ Vinaya bởi ngài thấu suốt từng nấc thang của Vinaya. Ngài giữ giới hạnh trong sạch và đã làm lễ xuất gia cho hơn 600 người Tây Tạng - và hiện nay ngài đã cho thọ giới xuất gia tại phương Tây. Ngài rất nổi tiếng trong tu viện, và vì thế nhiều học viên tới nhận giáo lý của ngài, đặc biệt là về Vinaya, bởi giới đức của ngài rất thanh tịnh.
Ông cố, ông và thân phụ của Rinpoche đều là những đại hành giả. Ông cố và ông của ngài là nhữngKagyupa và thân phụ ngài theo dòng Gelug, nhưng họ đều là những vị trì giữ lam-rim. Họ trải qua hầu hết cuộc đời trong ẩn thất, mặc dù không giống như Rinpoche, họ cũng không hề bước chân ra ngoài. Họ đều là những vị trì giữ dòng truyền thừa. Rinpoche được bao quanh bởi những hành giả này.
Thân mẫu của ngài sinh tám trai và năm gái, và năm người trong số các con trai của bà đã trở thành những tu sĩ. Một người trong số đó, người anh em thứ ba, đã đạt được những chứng ngộ cao cấp. Vị này tên là Geshe Thubten Yampil, ngài thông suốt mọi giáo lý Phật Giáo, đạt được những chứng ngộ và đã sáng tác năm mươi quyển sách và ban lễ nhập môn Kalachakra ở Tây Tạng. Người thứ hai cũng là một thiền giả nổi tiếng. Phụ mẫu của Rinpoche đã qua đời và trừ một người ra, tất cả các chị em gái của Rinpoche cũng đã mất.
Hiện nay có Hóa Thân của người anh em thứ hai này ở Kham, Tây Tạng, ngay trong nhà của gia đình ngài. Cũng có Hóa Thân của người anh em thứ ba ở Tây Tạng, cũng như Hóa Thân của người anh cả. Hóa Thân của người anh thứ hai có thể tụng Kinh điển Phật Giáo mà thậm chí không nhìn vào sách, chúng đến thẳng từ trái tim ngài. Khi Choden Rinpoche thuật lại cho Đức Đạt Lai Lạt Ma điều này, Ngài hỏi ông ta có phải là một tulku không, nhưng Choden Rinpoche nói là không, đó là anh thứ hai của ngài trước đây.

Bài báo này xuất hiện lần đầu tiên trong Tạp chí Mandala, Tháng Bảy/Tám năm 2000.
Nguyên tác: “The Life of a Hidden Meditator”
http://www.kurukulla.org/program/choden_articles/hidden.html

Chú thích:
(1) chuba: Ngoại y truyền thống của người Tây Tạng, cả nam lẫn nữ. Kiểu củangười nam có các tay áo dài.
(2) Chulen: sự trích xuất các chất tinh túy, phương pháp khiến ta không phải dùng thực phẩm thông thường, chỉ dùng những chất thể hay yếu tố nào đó với sốlượng ít ỏi.
(3) Ba phương diện chính yếu của con đường: những giáo lý cốt tủy của lam-rim: sự từ bỏ, Bồ Đề tâm, và tánh Không.
Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa
TIỂU SỬ CỦA ĐỨC DRUPON SONAM JORPHEL RINPOCHE



Ladakh là một miền đất tuyệt đẹp được gia hộ bởi một chuỗi liên tục không gián đoạn các vị Vua và thượng thư thông tuệ và chứng ngộ, là hiện thân của các Đại Bồ Tát. Một trong những thung lũng trong vùng thấp của miền đất này là Bodhkharbu, tại đây Đức Drupon Jorphel Rinpoche ra đời trong một gia đình tên là Gongmapa. Thân phụ ngài là Sonam Tsephel và thân mẫu là Chosnyit Zangmo, một phụ nữ có bản chất hết sức tốt lành, lịch thiệp và độ lượng. Ngài là con út trong gia đình có bốn trai và một gái.
Vào sáng sớm ngày mồng 10 tháng 2 năm Thổ Mẹo, ngài ra đời thật nhẹ nhàng với nhiều điềm kỳ diệu và tốt lành, không làm mẹ ngài đau đớn khi chuyển dạ. Theo khoa chiêm tinh, bởi ngài sinh vào ngày thứ năm nên ngài sẽ thông tuệ và thực hành Pháp. Tiên tri nói rằng bởi sao hộ mạng của ngài là Yugpa, ngài sẽ sống từ 28 tới 90 tuổi. Vào ngày mồng 10 và trong tháng 10 ngài sẽ gặp những chướng ngại bởi ngôi sao về việc ngài ra đời được in dấu trên bàn tay ngài. Dấu hiệu rõ ràng khác là một hình chữ vạn theo chiều kim đồng hồ xuất hiện trên mu bàn tay trái của ngài. 

Vào lúc này, Pháp Vương ở Ladakh là Choje Chosku Tsang. Ngài kiểm tra đứa trẻ thật trìu mến và thương yêu nó mặc dù nó còn rất nhỏ. Ngài thực hiện một tiên tri rõ ràng cho bà mẹ rằng nếu đứa bé được nuôi dưỡng hoàn hảo và thọ giới xuất gia, nó sẽ mang lại lợi lạc to lớn cho rất nhiều chúng sinh. Ngài đặt tên cho cậu bé là Jorphel Palzangpo và ban rất nhiều gia hộ, điều đó làm kinh ngạc những người hiện diện. 

Ngay cả khi còn là một đứa trẻ, Drupon Jorphel Rinpoche đã biểu lộ lòng từ ái bẩm sinh đối với những người nghèo khó và lòng sùng mộ đối với những bậc minh triết. Đặc biệt là ngài có thiên hướng tỉnh giác của Đại thừa với sự thông tuệ kỳ diệu bẩm sinh và luôn luôn biểu lộ lòng thương yêu và chân thật một cách tự nhiên thậm chí không cần phải rèn luyện các hành vi đạo đức. Ngài thích thực hành Pháp siêu việt một cách tự nhiên. Cách ngài giảng dạy Pháp, phương pháp và trí tuệ về phương diện đi vào con đường và những nỗ lực của ngài để làm lợi lạc chúng sinh phù hợp với những biểu hiện kết quả được giảng dạy trong Abhisamayalankaranama. 

Có câu nói rằng:

Bồ đề tâm sẽ không từ bỏ ta
Như cò thìa từ bỏ nước và khói từ bỏ lửa 
Có thể xét đoán gia đình của một Bồ Tát minh triết
Bằng những đặc điểm của ngài.

Phù hợp với những điều này, bởi Drupon Jorphel Rinpoche là một Bồ Tát với một tâm hồn cao quý và những ý hướng phi thường, mọi người trong làng nói rằng ngài hẳn là một hóa thân vĩ đại. Đặc biệt, thông tin ầm ĩ như gió nói rằng ngài là hóa thân của Trì minh vương Tashi Wangdan hay Balok Gelong, một đệ tử thành tựu của Drupon Choskyab Rinpoche. Tuy nhiên, đối với ngài, danh hiệu Tulku này tan biến như một cầu vồng, bởi ngài không quan tâm tới một địa vị như thế và thân phụ của ngài xuất thân từ một gia đình nghèo khó chắc chắn là không chú tâm tới vấn đề này. Đặc biệt là thân phụ và ông của ngài không ích kỷ và vô minh như nhiều người thời nay. 

Từ bốn tới năm tuổi, Drupon Jorpehel Rinpoche bắt đầu học đọc với thân phụ. Ngài đọc Tuyển tập các Đà-ra-ni; 8000 câu kệ; Kinh Súc tích; Tiểu sử của Đức Liên Hoa Sanh. Sau đó ngài học thuộc lòng toàn bộ các nghi thức và những cách thức cử hành Pháp của dòng Drikung Kagyu. Ngài nổi tiếng bởi rất thông tuệ khi học tập rộng rãi như thế. Không chỉ học tập xuất sắc vào ban ngày, ngài cũng có thể học thuộc lòng các trì tụng trong các giấc mơ mà không cần đọc các bản văn. 

Khả năng đọc các bản văn vào ban ngày cũng như trong các giấc mộng thì giống với tiểu sử của Đức Karmapa Rolpe Dorje trong quá khứ. Theo tiểu sử của Karmapa Rolpe Dorje, mỗi đêm ngài mở nhiều bản văn và sắp xếp chúng quanh giường và trong giấc mộng, ngài có thể học thuộc lòng những từ trong các bản văn và hiểu ý nghĩa của chúng. Tương tự như vậy, Drupon Sonam Jorphel Rinpoche siêu phàm đã học thuộc lòng các bài Pháp trong và ngoài giấc mơ. Một trong nhiều bản văn mà ngài hoàn toàn học thuộc lòng trong các giấc mơ mà không phụ thuộc vào việc đọc bản văn vào ban ngày là  ‘Hai mươi Lời Tán thán Shinskyong’. Như thế ngài đã hết sức nỗ lực không chút xao lãng trong việc học tập, cả ngày lẫn đêm trong các giấc mộng, với sự thông tuệ và kiên nhẫn bẩm sinh, theo cách thế của những bậc siêu phàm thủa trước. 

Mặc dù sinh trong một gia đình có bề ngoài nghèo khó,
Tâm ngài thấm đẫm vẻ đẹp tận thâm sâu 
Của sự thông tuệ và kiên nhẫn bẩm sinh.
Bất biến trong bản tánh siêu phàm của ba bí mật,
Ngài là một Bồ Tát vô úy không khác một núi vàng. 

Năm lên tám, Drupon Jorphel Rinpoche cúng dường tóc trên đỉnh đầu cho Ladakh Cheje Togden Rinpoche và nhận Pháp danh “Konchok Samtan.” Đối với việc tu học, sau đó ngài được thu nhận và trở thành một Sa di trong tu viện Yungdrung Tharpa Ling, một địa điểm tốt lành phi thường mà các học giả và thành tựu giả trong quá khứ như A La Hán Nyima Gungpa, Đại Thành tựu giả Naropa và Dịch giả Rinchen Zangpo đã thăm viếng. Một lần nữa ngài học các nghi lễ, các tác phẩm Giáo Pháp và phụng sự tu viện phù hợp với những truyền thống cổ xưa và trở nên nổi tiếng như một tiểu Sa di xuất sắc mà mọi người đặt rất nhiều kỳ vọng. 

Nơi người ta thành tựu Trí tuệ Nguyên sơ Đại Lạc của Dharmadhatu (Pháp giới),
Suối nguồn của mọi điều tốt lành nhờ thấy, nghe và xúc chạm,
Yungdrung Tharpa Ling, Giáo Pháp, suối nguồn của sự giảng dạy và thực hành. 
Kỳ lạ thay! Trụ xứ này của những bậc siêu phàm thật tuyệt diệu.
Việc nghiên cứu, suy niệm và thiền định

Để có sự xác tín nơi truyền thống của các Đạo sư vĩ đại thủa trước, sự thực hành của những môn đồ uyên bác của các ngài và những tuyển tập giáo lý Kinh điển và Mật điển bao la, năm Drupon Jorphel Rinpoche mười sáu tuổi, ngài ao ước được đến Drikung Thil, Kim Cương Tòa thứ hai, là trung tâm đối với Ý nghĩa Cốt tủy của Dòng Thực hành trong Xứ Tuyết và trụ xứ của Đức Gyalwa Jigten Sumgon. Một cuộc du hành như thế cũng là một thông lệ và ngài muốn trung thành với điều đó. Để thực hiện chuyến đi này, ngài đã bất chấp gian khổ và đón nhận những khó khăn. Không quan tâm tới thân mạng, ngài khởi hành qua Kashmir, Ấn Độ, Nepal, Sikkim, Bhutan và Dromolung. Trên đường đi, ngài mặc áo giáp xác tín không khiếp sợ trước bất kỳ điều gì xảy ra như địa hình khắc nghiệt, các sông băng thăm thẳm tận chân trời, những lối đi lởm chởm đá, các vách đứng, những con sông khổng lồ và kẻ cắp. Như thế với hai mươi lăm bạn đồng hành, ngài đã khởi hành để đến nhận các quán đảnh và khẩu truyền Giáo lý Năm Thân. Ngài đến nơi an toàn và xin phép tới Tu viện Drikung Thil lộng lẫy và trở thành một người lão luyện các vũ điệu tâm linh, các giai điệu, tranh vẽ, mạn đà la cát, điêu khắc bơ, các nhạc khí, nghi lễ và Phật sự. 

Ngài gặp Chetsang và Chungtsang, các Kyabgon (đấng Quy y và Bảo hộ), và cũng đi hành hương tới tất cả những thánh địa ở Utsang và quanh vùng Utsang chẳng hạn như Tsukakhang vĩ đại ở Lhasa. Quan trọng hơn nữa là từ Choje Balok Thubten Choedak Rinpoche, một trong ba mươi đệ tử của Đức Jigten Sumgon, ngài nhận khẩu truyền Kinh điển Phật Pháp và những quán đảnh, khẩu truyền và giáo lý nền tảng của toàn bộ những bản văn nghi lễ và thực hành, giống như một chiếc bình trút sang chiếc bình khác. Sau đó ngài tìm kiếm sự hỗ trợ từ Nhà Ngari ở Drikung Thil và kiên trì thực hành thiền định, giống như cách thức của Đức Atisha xứ Ấn Độ. Trong thời gian này xảy ra những biến động của thời đại, những trận chiến và cách mạng tiếp diễn khiến ngài khó có thể trụ vững. Mặc dù thế, ngài vẫn duy trì phẩm chất của một hành giả và tiếp tục việc nghiên cứu và thiền định với sự xác quyết kiên cố trong chín tháng nữa. 

Sau đó Drupon Jorphel Rinpoche trở về Ladakh và trở thành tổng quản của Tu viện Hensku, một chi nhánh của Yungdrung Tharpa Ling trong ba năm. Đối với mọi người ngài có vẻ là một bậc phi thường tuân giữ nghiêm cẩn định luật nghiệp quả và thực hiện nỗ lực nhanh chóng nhất để làm lợi lạc cho người khác trước khi cho bản thân ngài. Họ khẩn nài ngài làm tổng quản thêm một lần nữa và ngài đồng ý làm thêm hai năm. Về sau ngài trở thành tổng quản của Tu viện Sangngak Choeling ở Bodhkharbu trong ba năm và đã thực hiện những hoạt động rộng lớn. Sau đó, phụ mẫu của ngài qua đời và ngài hiến dâng phụng sự đức hạnh rộng lớn của hai tích tập và đã thực hiện sự hồi hướng và cầu nguyện sâu rộng. 

Vì lợi lạc của Phật Pháp và hạnh phúc của chúng sinh, ngài đi gặp Taklung Tsetrul Rinpoche ở Tu viện Zang Zang Palri tại Chushul. Từ vị Thầy này ngài nhận những quán đảnh, khẩu truyền, giáo huấn cốt tủy cũng như các giáo lý nền tảng Bảy Kho tàng của Longchenpa, Ba Chuỗi Nghỉ ngơi, Ba Chuỗi Tự-giải thoát.

Từ học giả và bậc chứng ngộ Gelong Gyaltsen Rinpoche ở Tu viện Sharkhul Phuntsog Choling ở Ladakh thượng, ngài nhận những lời dạy về nhiều giáo lý y học chẳng hạn như bốn Mật điển y học.

Ngài cũng nhận các giáo lý cikitsavidya (y học) từ bác sĩ Thinle Odzer. Từ Khenchen Noryang Rinpoche, một bậc Thầy đã phổ biến rất nhiều giáo lý Kagyu trong thời đại suy hoại, ngài đã nhận các giáo lý về sách giáo khoa ngữ pháp, Abhisamayalankara (Trang nghiêm Chứng ngộ của Trí tuệ Ba la mật), Uttaratantra (Mật điển Ðại Thừa Tối Thượng), Madyamikaavatara (Nhập Trung Đạo) và v.v… 

Khi đã phát triển mối quan tâm lớn lao trong việc nghiên cứu và thiền định, ngài tới thánh địa Rewalsar, nơi an trú của Khenchen Thupten Choezang Rinpoche, một học giả và bậc chứng ngộ với những phẩm hạnh vô song về kiến thức, sự tận tâm, và tốt lành, bậc soi sáng giáo lý kho tàng phương bắc của truyền thống Mật thừa cổ xưa Dorje Dak. Cùng với hóa thân của Shabtrung Ngawang Namgyal xứ Bhutan, Drupon Jorphel Rinpoche làm hài lòng Khenchen Rinpoche với thân, ngữ, và tâm ngài và nhận nhiều giảng dạy về văn học như ba pho sách giáo khoa về ngữ pháp, thi ca, khoa nghiên cứu về vần luật và hình thức thi ca, các từ đồng nghĩa và cả Giáo pháp về nội khoa chẳng hạn như Cổng vào Kiến thức; Nhập Bồ Tát Hạnh; Pháp Tu Chuẩn bị; Những Câu Kệ Gốc và Luận giảng về sự Trang nghiêm Trung Đạo; Trang nghiêm Chứng ngộ của Trí tuệ Ba la mật, trong thời gian bốn năm.         

Hết sức hài lòng vì bản chất đáng kính của ngài, Khenchen Thupten Choezang Rinpoche nói: “Ta đã phơi bày mọi ngôn từ của trái tim ta cho ông, Sonam Jorphel.” Như thế, ngài hết sức may mắn được nhận nhiều giáo huấn cốt tủy sâu rộng, sự làm thuần thục và giải thoát, cùng với lòng từ ái và thương yêu to lớn.

Có lần trong thời gian này, Drupon Jorphel Rinpoche có việc phải đi Manali. Ngài cư ngụ tại nhà của một gia đình và ban đêm ngài ngủ trong một gian phòng ở tầng trên. Ngài thấy vô số giấc mơ, trong đó có những giấc mơ khác thường nhưng ngài không muốn để lộ ra. Sau này, ngay khi ngài biết là có một đại yogi đang ở tầng dưới, ngài đi gặp vị đó. 

Giây phút ngài nhìn thấy vị yogi, trong lòng ngài dấy lên một cảm giác buồn vui lẫn lộn và lòng sùng mộ không thể tưởng tượng nổi. Ngài tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy một Lạt ma đích thực nhưng buồn vì đã tạo nghiệp xấu bởi ngài đã ngủ phía trên Lạt ma trong phòng ở tầng trên. Drupon Jorphel Rinpoche nói rằng ngài khó có thể nói được ngay cả danh hiệu của vị Thủ hộ của các Yogi siêu phàm đó, nhưng nếu ngài làm điều đó thì đó là vì lợi lạc của chúng sinh. Ngài nói yogi đó là Drubwang Konchok Zodpa Gyatso hay Chunga Rinpoche, một hiện thân của Đại Thành tựu giả Dombi Heruka, vị Thủ hộ của các Yogi và là một Viên Ngọc Như ý.

Vào lúc đó, khi Drupon Jorphel Rinpoche cảm thấy một sự sùng mộ trọn vẹn, những tư tưởng tầm thường, khinh xuất hoàn toàn tự ngừng bặt và ngài an trụ trong trạng thái đó một thời gian. Ngài cúi đầu dưới chân Lạt ma và khẩn cầu Lạt ma coi ngài là đệ tử. Lạt ma chấp nhận điều đó và hỏi ngài từ đâu tới. Khi ngài trả lời là từ Ladakh tới, Lạt ma nói: “Ồ! Ồ! Đó là một trùng hợp ngẫu nhiên tương thuộc hết sức tốt lành.” Vị Lạt ma ban cho ngài một ít rượu để uống trong một chén sọ người mà ngài luôn luôn mang theo. Khi ngài uống cạn chén rượu không chút nghi ngờ, vị Lạt ma hết sức âu yếm ban cho ngài một vài giáo huấn cốt tủy và tiên tri: “Hai chúng ta có mối tương thuộc hoàn hảo, ta sẽ gặp lại nhau sau này.” Như thế họ chia tay nhau với sự miễn cưỡng.

Năm ba mươi lăm tuổi, Drupon Jorphel Rinpoche tới Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Ở đó ngài gặp Khunu Lama Tenzin Gyaltsen, một yogi ẩn dật vĩ đại, một bậc siêu phàm không-bộ phái tinh thông đại dương các giáo lý Phật giáo và phi-Phật giáo. Khi Drupon Jorphel Rinpoche khẩn cầu vị Thầy này một vài giáo lý, ngài hỏi: “Thầy ông là ai?” Drupon Jorphel trả lời: “Thầy con là Gegen Choszang Rinpoche.” Khunu Rinpoche chắp hai bàn tay và tán thán: “Ngài là một học giả uyên bác và là bậc chứng ngộ.” Khunu Rinpoche dạy Drupon Jorphel Rinpoche luận giảng ngag sgron (Ngọn Đèn Ngôn ngữ) là tác phẩm của ngài và ban cho Drupon Jorphel Rinpoche khẩu truyền byang chub sems bstod (Tán thán Bồ đề tâm), vài hạt giống của cây Bồ đề và các ngài đã cùng nhau thảo luận thật lâu. 

Một đệ tử của Bồ Tát Tenzin Gyaltsen Rinpoche là Drikung Khandro hay Nene Rinpoche; một yogini (nữ hành giả) trong hình tướng con người. Bà nói với Drupon Jorphel Rinpoche: “Ngay bây giờ đây, Dòng Drikung vô cùng suy yếu và bị thiệt thòi. Tôi khẩn nài ngài lưu ý để Dòng Drikung càng lúc càng phát triển hơn và những tổn hại được sửa chữa trong tương lai.” Đặc biệt là bà nói: “Tôi rất hy vọng là ngài sẽ làm lợi lạc Phật Pháp và chúng sinh. Đừng bỏ lỡ điều đó. Đừng bỏ lỡ điều đó.” Đúng như bà đã tiên tri, như một điều rất hiển nhiên đối với chúng ta, hãy nhìn các hoạt động giảng dạy và thực hành của Drupon Jorphel Rinpoche. Những ai là bậc minh triết nhất định sẽ phải chú ý tới những điều này. 

Sau đó, tiên tri của Drubwang Chunga Rinpoche dường như trở thành hiện thực, biểu lộ tính chất không thể sai lạc của mối tương thuộc hoàn hảo nhân và quả. Với những nguyện ước vô song, Ladakh Choeje Togden Rinpoche và Khenchen Konchok Tenzin đồng lòng quyết định thỉnh mời Viên Ngọc Như ý Drubwang Chunga Rinpoche tới Ladakh để có thể thắp lại ngọn lửa sắp tàn của Dòng Drikung. Họ phái Gelong Tsetan tới Himachal, đặc biệt để mời Drubwang Chunga Rinpoche. 

Bởi những nguyện ước và hứa nguyện kiên cố trong quá khứ, Drubwang Chunga Rinpoche đã hết sức ân cần chấp thuận lời cầu thỉnh và tới Chusul ở Ladakh, chỉ vì lợi lạc của các giáo lý vô cùng quý báu của Dòng Thực hành mà ngài không ngừng ấp ủ trong tim. 

Khi Drubwang Chunga Rinpoche đã có mặt ở Ladakh, Choeje Togden Rinpoche chỉ định một vài tu sĩ nhập thất và đặc biệt là đã gọi Drupon Jorphel Rinpoche lại và thuyết phục ngài thực hành trong ẩn thất để truyền bá yếu nghĩa của Dòng Thực hành. 

Vào lúc đó, ngài nghĩ rằng đã tới thời điểm ngài đặc biệt ao ước để kiên nhẫn trong việc thực hành yếu nghĩa và cũng có thể mang lại lợi lạc cho Phật Pháp và chúng sinh. Vì thế Drupon Jorphel Rinpoche tự quyết định và đồng ý với lời khẩn cầu của Choeje Togden Rinpoche. Phương tiện sinh sống của  Drupon Jorphel Rinpoche trong thời gian nhập thất sẽ được bảo trợ bởi Chushul Meme Gawa Tsang, Lhobzur Konchok Gyatso - bạn ngài - và mẹ của ngài. Ngoài ra, bản thân Drupon Jorphel đã chữa trị cho một vài bệnh nhân và kiếm được một ít tiền.  Như thế phương tiện sinh sống trong thời gian nhập thất của ngài được sắp xếp một cách tự nhiên.

Khóa nhập thất đầu tiên được thực hiện ở Zang Zang Palri tại Chushul, nơi một đệ tử thiết lập một tu viện theo tiên tri của Guru là ngài Kyabgon Thugje Nyima.    Khóa nhập thất này gồm có Drupon Jorphel Rinpoche và các bạn đồng tu của ngài như Lhobzur Konchok Gyatso, Lhobzur Konchok Tenzin, Gelong Tseten, Gelong Choejor, Gezur Konchok Thusten, Uzur Konchok Dorje, Dezur Konchok Lhundup, Gelong Gatsul, Gelong Trimten và Amje Rabten.   

Tại Zang Zang Plari ở Chushul, Drubwang Chunga Rinpoche đã giảng dạy các giáo lý tổng quát như Pháp Bảo của sự Giải thoát; Chuỗi Ngọc của Con Đường Siêu việt; Hai Luận giảng của Gongchik; Ba mươi bảy Thực hành của các Bồ Tát.     

Ngài cũng dạy các giáo lý về thực hành thiền định như Quán đảnh và Thực hành pháp Trường thọ; Năm nhánh Đại Ấn; Các Câu Kệ Kim cương của Dòng Lắng nghe; Mật điển Sánh tợ Không gian; Đại Ấn Sông Hằng; Dòng Lắng nghe của Milarepa. Như thế, Drupon Jorphel Rinpoche cùng mười một hành giả đầy đủ phẩm tính đã nhận những quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy làm thuần thục và giải thoát phù hợp với các giai đoạn của con đường. Các ngài đã nhất tâm nhẫn nại trong việc nghiên cứu và thực hành, giương cao ngọn cờ giáo lý chiến thắng của các Đạo sư siêu phàm thủa trước của Dòng Thực hành trên chóp đỉnh của ba cõi và làm cho giáo lý của Đức Phật lan rộng khắp muôn phương. 

Lần thứ hai, Drupon Jorphel Rinpoche nhập thất tại Lamayuru hay Dansa Chenpo Yungdrung Tharpa Ling, một địa điểm phi thường, nơi nhiều bậc siêu phàm như A La Hán Nyimagungpa và Đại Thành tựu giả Naropa v.v.. đã viếng thăm. Lần này Drubwang Chunga Rinpoche có mười lăm đệ tử trong đó có Đức Drikung Kyabgon Chetsang. 

Khi đã tới lúc Lạt ma Drubwang Chunga Rinpoche thị tịch vì lợi ích của chúng sinh, người duy nhất mà Lạt ma có thể tin tưởng được là Drupon Jorphel Rinpoche. Ngài được ban một vài giáo huấn cốt tủy dưới hình thức di chúc của Lạt ma. Sợ rằng các giáo huấn cốt tủy có thể trở thành sự cường điệu và phỉ báng, ngài đã gìn giữ chúng ở tận đáy lòng mình. Drubwang Chunga Rinpoche nắm tay Drupon Jorphel Rinpoche trong bàn tay phải của mình và nói: “Hãy thực hành theo cách ta đã dạy cho con. Ta hiểu niềm vui và nỗi buồn của con. Nhờ Bổn tôn và Lạt ma, hành giả không bao giờ bị sai lạc.” Sau này, Drubwang Chunga Rinpoche ra lệnh: “Bây giờ con cũng hợp nhất với ta và hãy tụng ‘Gọi thầy Từ Xa.’” Trong khi hai Thầy trò đang tụng ‘Gọi Thầy Từ Xa’, Lạt ma cầm tay Drupon Jorphel Rinpoche bằng bàn tay phải và nói “Shewe Lodro Khenno!” Rồi với đôi mắt mở lớn đăm đăm nhìn lên không trung, Lạt ma nhập Niết bàn. 

Các đệ tử chìm đắm trong buồn đau và được hướng dẫn thực hiện các tang lễ thích hợp. Một hội nghị được tổ chức trong mọi đệ tử và những người đồng lòng tuân theo lời dạy của Lạt ma Tôn quý. Đức Drikung Kyabgon cũng khuyên rằng cách hay nhất là thực hành pháp trường thọ và duy trì việc thực hành cá nhân trong các phòng nhập thất thích hợp. 

Đúng như Drubwang Chunga Rinpoche đã dự định, Drupon Jorphel Rinpoche ban các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy cho những hành giả sau đây: Khenchen Konchok Gyaltsen, Gelong Tashi Gyatso quá cố, Gelong Konchok quá cố, Lobzur Tondup, Drupon Sonam Kunga, Gelong Tsering, Drupon Chamba Rigzin, Drupon Konchok Samten, Gelong Paldan, Lama Konchok Tharchan, Gelong Dawa, Nangchen Gelong Tsulten, Gelong Samtan, Lhopon Tondup – người anh quá cố của Drupon Jorphel Rinpoche.

Sau này, Đức Drikung Kyabgon Chetsang, vị kế thừa giáo lý của Gyalwa Drikungpa tượng trưng cho trái tim của Dòng Ý nghĩa, với bản tánh tự nhiên của một đấng siêu phàm, đã làm vui lòng thân, ngữ và tâm của Drupon Jorphel Rinpoche và nhận các giáo huấn cốt tủy dành cho thiền định về Lạt ma như Pháp Thân v.v.. cho tới thực hành hồi hướng. Đức Drikung Kyabgon Chetsang cũng nhận các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy Vajrayogini, phù hợp với lời dạy của Lạt ma cùng với Sáu Yoga của Naropa và những bài tập du già và v.v…Những giáo lý này được từ từ dâng lên Đức Drikung Kyabgon Chetsang, phù hợp với lời dạy của các Đạo sư thủa trước của Dòng Kagyu.

Trước đó, Drupon Jorphel Rinpoche làm thị giả khi Đức Drikung Kyabgon Chetsang thực hiện các trì tụng thiền định trong trụ xứ chính của ngài tại Yungdrung Tharpaling, kế đó là một vài giáo huấn cốt tủy được Drubwang Chunga Rinpoche dâng cho Đức Chetsang Rinpoche.     

Tóm lại, Lạt ma và các đệ tử đã duy trì samaya (hứa nguyện) kiên cố hơn một cái nút vàng; đã thực hành con đường hai giai đoạn; nghiên cứu và giảng dạy bốn bộ tantra (Mật điển); ngăn ngừa việc biến mất của dòng quán đảnh không khiếm khuyết và không bao giờ đánh mất sự chính xác trong thực hành của Đạo sư thủa trước của Dòng Thực hành. Không chút sai lầm trong cái thấy (kiến), thiền định (thiền) và hành động (hành), các ngài nghiên cứu và thực hành đại dương giáo lý gắn liền với Mật thừa vĩ đại. 

Trong mọi lúc, các ngài đã bảo tồn trong giai đoạn phát triển, các trì tụng thiền định và giai đoạn thành tựu và đã xem thân thể mình như thân của Bổn tôn, ngữ như các thần chú và tâm như sự hợp nhất của đại lạc và tánh Không một cách tương ứng, hoàn toàn phù hợp với các giáo huấn cốt tủy của các Đạo sư siêu phàm của Dòng Thực hành, là tập hội kiệt xuất nhất đã đáp ứng mọi ước nguyện của bản thân và chúng sinh.   

Đối với nhóm hành giả được đề cập ở trên,  Drupon Jorphel Rinpoche đã ban các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy Vajrayogini và Sáu Yoga của Naropa, kể cả các giáo lý nền tảng, hoàn toàn phù hợp với phương pháp của Lạt ma siêu phàm. Vì lợi ích của Phật pháp và chúng sinh, ngài đã biểu thị những hoạt động vĩ đại đáng kinh ngạc như đề xướng việc hồi sinh các giáo lý truyền dạy và chứng ngộ nói chung và một lần nữa truyền bá các giáo lý của Gyalwa Drikungpa nói riêng. Như thế, ngài đã bảo tồn các kỹ thuật của Đạo sư thủa trước của Dòng Thực hành, là dòng truyền thừa như sợi xích vàng không có những vết nhơ của các vi phạm samaya. Những lợi lạc to lớn được thành tựu bởi các đệ tử phi thường như thế, là các bậc hộ trì, bảo tồn và truyền bá Kinh điển và Mật điển cùng những luận giảng được mô tả rõ ràng trong các Kinh điển và Mật điển, và vì thế tôi không ghi lại những điều đó ở đây.   

Drupon Jorphel Rinpoche đã nhận kho tàng bao la giáo lý của Đức Phật, các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy, kể cả các giáo lý nền tảng cũng như nhiều giáo huấn sâu rộng như khrid yig yeshes blama của Đức Dilgo Khentse Rinpoche, hiện thân của Đức Liên Hoa Sanh và vị lãnh đạo tâm linh của truyền thống Cựu Dịch. Ngài đã nhận Kho tàng Quý báu các giáo lý-kho tàng (terma) từ Đức Kyabje Drubwang Penor Rinpoche. Ngài đã nhận nhiều quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy từ Taklung Matrul Rinpoche, Shabtrung Rinpoche, Đức Kyabje Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa Thứ 16 Rigpe Dorje, Đức Đạt Lai Lạt Ma, biểu tượng của nền hòa bình thế giới và vị thủ hộ của trời và người, và nhiều Lạt ma chân chính khác. Về tên của những giáo lý này, quý vị có thể tham khảo danh mục các giáo lý ngài đã thọ nhận. Bởi không đủ thời gian, tôi không liệt kê các giáo lý đó ở đây và xin tạ lỗi về điều đó. 

Những Hoạt động Rộng lớn của Rinpoche để Truyền bá Phật pháp 

Từ năm 1983, Drupon Jorphel  đã du hành tới nhiều quốc gia. Ngài đã thiết lập nhiều trung tâm Giáo Pháp như Drikung Tahijong ở Đức, Drikung Phuntsogling tại Áo và trung tâm Giáo Pháp Drikung Kagyu ở Nga và bằng cách chuyển Pháp luân, ngài đã giúp cho nhiều người chuyển tâm về Pháp. Trong số các đệ tử của ngài, nhiều người là những đại thí chủ của Giáo Pháp. Những người thượng căn đã đạt được giải thoát trong đời này. Những người trung căn đạt được giải thoát vào lúc chết và những người hạ căn đạt được giải thoát trong trạng thái trung ấm. 

Trong số các đệ tử hiện tại của ngài có Tara ở Áo và Ngakpa Rinchen Phuntsok là những người đã hiến dâng toàn bộ đời mình cho việc phụng sự Drupon Jorphel Rinpoche. Đa số các đệ tử của ngài thuộc các truyền thống Sakya, Gelug, Kagyu và Nyingma cũng như ở Ấn Độ, Trung quốc, Nepal và Tây Tạng, là những người tìm kiếm sự toàn giác, nỗ lực nghiên cứu và thực hành Pháp và bước đi trên con đường tam học (Giới, Định, Huệ) và nghiên cứu Tam Tạng Kinh điển (Kinh, Luật Luận). Ngay cả một kẻ ngu si như bản thân tôi cũng đã để ý xem làm thế nào hầu hết đệ tử của ngài nhẫn nại liên tục, cả ngày lẫn đêm, trong việc thực hành Pháp bằng cách cưỡi trên con ngựa trí tuệ và đốc thúc nó gia tăng tốc độ bằng chiếc roi da của sự nỗ lực tinh tấn. 

Ngoài ra, Drupon Jorphel Rinpoche đã du hành khắp thế giới, ở những quốc gia như Hoa Kỳ, Thụy sỹ, Đài Loan, Mã Lai và Nga và mang lại nhiều lợi lạc cho tất cả chúng sinh bằng cách xoay chuyển tâm họ về Pháp. Tôi đề nghị các bạn xem video để hiểu thêm về những hoạt động soi sáng toàn thể ba cõi của ngài. 

Vào năm 2000, trong Khóa Giảng Năm Tỵ tại Jangchub Ling, Ấn Độ, Drupon Jorphel Rinpoche đã thực hiện một công hạnh bố thí vĩ đại bằng cách ban Giáo Pháp như-cam lồ là bảy Mật điển của Ngok Lotsawa, chẳng hạn như Hey Vajra, cùng nhiều sadhana (nghi quỹ) và những luận thuyết, cho một tập hội hơn một ngàn tu sĩ, trong đó có nhiều Khenpo và Tulku.   

Để không phí phạm những hiến cúng nhận được ở ngoại quốc, Drupon Jorphel Rinpoche đã sử dụng chúng để thiết lập các trường Phật học và các trung tâm thiền định và xây dựng các biểu trưng của thân, ngữ và tâm theo cách thức sau đây:   

Để tổ chức các Đại lễ Cầu nguyện bất bộ phái hàng năm ở Ladakh, ngài đã hiến tặng tận tay Chủ tịch Wangchuk số tiền 7.000.000 ru-pi. Bằng cách tạo điều kiện thuận tiện cho việc tổ chức Đại lễ Cầu nguyện được toàn hảo, việc này mang lại một lợi lạc to lớn cho Phật pháp và chúng sinh. Ngoài ra, ngài đã hiến tặng hàng trăm và hàng ngàn ru-pi để làm quỹ xây mới các tu viện của mọi tông phái.   

Tại Bodkharbu, ngài đã hiến tặng 8.000.000 ru-pi cho quỹ xây dựng dinh thự cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. 

Ngài đã tặng 400.000 ru-pi cho Tu viện Gangngon Tashi Chedzong để thực hiện nghi lễ kun rigs (sarvavid) và Một Trăm Triệu Trì tụng Thần chú Mani hàng năm.     

Ngài đã tặng một Thanka (tranh cuộn Tây Tạng) thêu khổng lồ và sáu mươi tượng mạ vàng của chuỗi vàng các Đạo sư Kagyu kể cả những chất thể linh thiêng cho Tu viện Yungdrung Tharpa Ling. 

Ngài đã tặng trọn bộ Bản dịch Giáo lý của Đức Phật và 100.000 ru-pi cho Tu viện Shachul Phuntsok Choeling. 

Ngài đã tặng 100.000 ru-pi cho Sani Gonpa tại Zangskar. 

Ở Đề Li, ngài đã khai mạc Đề án Bản văn Drikung Kagyu, là đề án đã in ấn nhiều tác phẩm quan trọng. 

Dinh thự của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Bodkharbu là một mô hình của Yumbu Lhakhang ở Tây Tạng. Trong lễ khánh thành dinh thự này, Đức Đạt Lai Lạt Ma vô cùng hoan hỉ và với thiện tâm to lớn, ngài đã ban nhiều giáo lý sâu xa. Trong bài diễn văn, Đức Đạt Lai Lạt Ma hứa sẽ viếng thăm nơi đây một lần nữa. Là những hoạt động vĩ đại đã thực hiện được, dinh thự giống như một vật trang hoàng tuyệt đẹp để nhân dân Ladakh tích tập công đức mới.   

Ngoài ra, Drupon Jorphel Rinpoche đã thành lập các ni viện và trung tâm nhập thất mới; hiến cúng rộng rãi cho Drikung Thil, Kim Cương Tòa thứ hai; cúng dường một trụ xứ và các vật thể tượng trưng cho thân, ngữ và tâm của Đức      Drikung Kyabgon Chungtsang, vương miện của toàn bộ dòng Dagpo Kagyu, vị lãnh đạo của toàn thể chúng sinh, bậc chỉ ra con đường siêu việt và đại diện của Đấng Chiến Thắng. Thêm nữa, Drupon Jorphel Rinpoche đã thực hiện những công hạnh bố thí vĩ đại cho nhiều tu viện và cộng đồng Drikung Kagyu. Tại Ngari, Tây Tạng, ngài đã giúp tái thiết tu viện Gyandrak và bảo trợ việc cung cấp thực phẩm cho các tu sĩ. 

Tại Nepal, ngài đã thiết lập một trung tâm nhập thất tại Tatopani và Tổ chức Drikung Kagyu Dharamraja Foundation, trụ xứ của khoảng một trăm tăng sinh và thầy giáo của họ. Ngài có kế hoạch thiết lập một Học viện biện chứng trên ngọn đồi thiêng phía sau Đại Bảo Tháp Syambunath.   

Dựa trên bản chi tiết kỹ thuật được thiết lập, ngài đang xây dựng nhiều bảo tháp chứa đầy những chất thể xác thực:

Việc xây dựng một trung tâm nhập thất và một Đại Bảo Tháp Liên Hoa đang tiến hành tại Lâm Tì Ni, để tưởng nhớ Đạo sư Vô cùng Thiện xảo và Đại Bi của chúng ta, Đấng Toàn Giác, Quốc Vương vô song của bộ tộc Thích Ca. 

Ngài cũng xây dựng một Bảo Tháp Thuận Hòa ở Đức; một Bảo Tháp Chiến Thắng Không Chướng ngại tại Áo; một Bảo Tháp Giáng Thế ở Nepal tại Đại Bảo tháp Swyambhunath; một Bảo Tháp Giác ngộ tại Tatopani; một Bảo Tháp Thuận Hòa tại trung tâm nhập thất ở Lamayuru như các món cúng dường cho Drubwang Chunga Rinpoche; một Bảo Tháp Giác ngộ và các pho tượng của Đức Văn Thù, Kim Cương Thủ và Quán Thế Âm tại Henassku; một Bảo Tháp Giác ngộ và các pho tượng của Đức Văn Thù, Kim Cương Thủ và Quán Thế Âm tại Shachukul; một Đại Bảo Tháp Liên Hoa tại Pithodgar ở bắc Ấn Độ và một Bảo Tháp Giác ngộ như món cúng dường cho Thupstan Choszang Rinpoche, trong mộ địa vĩ đại tại Sani, Zangskar, nơi vị Thầy này viên tịch.     

Drupon Jorphel Rinpoche cũng liên tục truyền bá các thiền định và trì tụng trong bốn thời khóa. Như thế ngài phụng sự như một sứ giả làm chói ngời các hoạt động vĩ đại để truyền bá và thâm nhập khắp ba cõi. Như đã đề cập ở trên, ngài là một đệ tử đích thực của Drubwang Chunga Rinpoche, đã thực hiện mọi sự phù hợp với lời dạy của Lạt ma. Nhờ bản chất và sự hiến dâng toàn hảo cho Phật pháp và chúng sinh, ngài đã thiết lập các tu viện như những biểu trưng cho thân Phật; các thư viện giáo lý của Đức Phật và những luận giảng như các biểu trưng cho ngữ Phật; các Học viện biện chứng và trung tâm nhập thất cùng những cộng đồng tâm linh như những biểu trưng cho tâm Phật. Ngài là một thiện tri thức đích thực hiện diện trong cuộc đời như sự vinh quang và vị thủ hộ của Phật pháp và chúng sinh với thân tướng vĩ đại chói ngời, ngôn ngữ lộng lẫy không mỏi mệt và tâm thức bất biến trong sự xả bỏ hoàn hảo. 

Nguyên tác: “Most Venerable Drupon Sonam Jorphel Rinpoche”
www.drikung.org/index.php?option=com_content&view=article&id=90...202

Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên